Thứ Sáu, 8 tháng 8, 2014

Ông Hoàng Mười, là ai???, Đền thờ Mỏ Hạc ngã ba Tam Kỳ, Nghệ An

Đền ông Hoàng Mười nằm cách trung tâm thành phố Vinh khoàng 2 km theo đường chim bay. Được xây dựng năm 1634 (thời hậu Lê), đến thờ các vị phúc thần như Song đồng Ngọc Nữ, thờ ông Nguyễn Duy Lạc (một võ tướng thời Lê, quê ở làng Xuân Am, xã Hưng Thịnh), thờ hệ thống đạo Mẫu tứ phủ Liễu Hạnh. Vị thần chính của ngôi đền này là ông Hoàng Mười.

Khi nhắc đến ông Hoàng Mười, không chỉ những người theo đạo Tứ phủ (Đệ nhất, Đệ nhị, Đệ tam Thánh mẫu và Đệ tứ khâm sai) mà người dân từ Bắc chí Nam ai cũng ngưỡng mộ và nhiều nơi lập đền thờ vọng Ngài. Tuy nhiên, đền thờ chính của Ngài thì có lẽ vẫn chưa nhiều người biết đến. Trong một bài hát chầu văn có câu "Đền thờ Mỏ Hạc ngã ba Tam Kỳ".

Một bài ca dao cũng có đoạn: "Đường về xứ Nghệ nghĩa tình, sông Lam núi Quyết địa linh bao đời, Tam Kỳ Mỏ Hạc là nơi, Đền thờ lăng mộ đời đời khói nhang...". Nhà nghiên cứu văn hoá Nguyễn Văn Đạt cho biết, từ những câu thơ này, ông đã đi tìm Mỏ Hạc, hình dung Hạc là một sinh vật đẹp, người xưa thường lấy Hạc và Rùa làm biểu tượng âm dương. Tìm đến làng Xuân Am, trước đây gọi là Âm Công (cuối thời nhà Nguyễn thì đổi tên thành xã Yên Pháp, nay là xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An) thì thấy quả là nơi có hình tượng đầu một con Hạc đẹp tuyệt vời do những con sông Mộc, sông Vĩnh tạo thành, đầu con Hạc đội Lam giang, mỏ chầu về Đồng Trụ Sơn. Đấy là nơi có đền thờ ông Hoàng Mười linh thiêng, "Mỏ Hạc Linh Từ" là tên chữ của đền, có nghĩa là ngôi đền linh thiêng toạ trên vùng đất có hình "con hạc" mà đền lại nằm ở vị trí phía "mỏ".
 
Người anh hùng dân tộc

Tương truyền, theo sự phân công của Vua cha là Long thần Bát Hải Đại Vương và đệ nhất thánh Mẫu Thiên Tiên công chúa, ông Hoàng Mười được giao trọng trách trấn thủ Nghệ An về mặt tâm linh, được đặc cách toàn quyền kiểm sát khâm sai ở xứ Nghệ. Quan Hoàng Mười là một người văn võ toàn tài, có công dựng nền thịnh trị, ổn định cuộc sống cho nhân dân quanh vùng. Đặc biệt, ông luôn quan tâm, gần gũi, giúp đỡ những người dân lao động nghèo khó.

Tín ngưỡng dân gian cho rằng, ông Hoàng Mười là hoá thân của các vị Lý Nhật Quang, Lê Khôi, Nguyễn Duy Lặc, Nguyễn Duy Nhân và cả Nguyễn Xí. Đó là những nhân vật lịch sử của xứ Nghệ, có nhiều công trạng và lý lịch na ná như ông Hoàng Mười.

Truyền thuyết kể rằng ông Hoàng Mười quê ở làng Xuân Am, tổng Yên Đổ, phủ Hưng Nguyên xưa (nay là Hưng Thịnh, Hưng Nguyên, Nghệ An). Ngài là một vị tướng tài có công lớn trong cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn, hy sinh trong trận Âm Công đánh vào thành Lục Niên.

Âm Công là một trận nghi binh làm voi giả, chiến thuyền giả. Ngài kéo quân đánh tập hậu, tả xung hữu đột làm cho quân Minh kinh hồn bạt vía. Ngài đã bị thương nặng, chỉ kịp phi ngựa về đến quê nhà thì mất. Triều đình lấy làm thương tiếc nên lấy đất Âm Công - quê hương Ngài để tưởng nhớ công ơn. Nhà Vua ban tặng cho Ngài 4 câu thơ:

"Đế thích long chương khai thái vận,
Thiên sinh thần võ dực hồng đồ,
Sinh bất hư sinh, sinh nghĩa đảm,
Tử thuỷ vô tử, tử trung can"

(Tạm dịch:: Vua tặng sắc phong mừng vận đẹp, Trời sinh tướng giỏi giúp non sông, Sống chẳng sống thừa lòng nghĩa dũng, Chết mà không chết dạ can trường).
 
Linh hồn của Mỏ hạc linh từ

Ông Hoàng Mười còn được nhân dân xứ Nghệ tôn vinh "Đức thánh minh", là một vị quan nằm trong hệ thống điện thần thờ Mẫu tứ phủ ở Việt Nam (được xếp bậc thứ 10 trong hệ thống đạo Mẫu). Nơi nào trên dải đất Việt Nam có điện thờ Mẫu là nơi đó có tượng hoặc bàn thờ ông Hoàng Mười. Giáo sư - Nhà nghiên cứ văn hoá dân gian Võ Ngọc Khánh nhận xét: "Ông Hoàng Mười là nhân vật huyền thoại nhưng lại gần gũi thân quen và được nhân dân quý trọng, tôn sùng vì ông rất hợp với tâm lý và phong cách xứ Nghệ. Con người đáng trân trọng có chí nam nhi phải là anh hùng ngang dọc, phải có văn võ, có trí, có dũng. Con người phải biết lo lắng cho cuộc sống bình an của dân chúng, phải biết vì dân vì đời. Nhưng con người ấy phải là con người không ham danh lợi, biết yêu thiên nhiên, thích văn chương, yêu phong nguyệt. Hơn thế nữa, nếu là con người xứ Nghệ thì phải rất tình tứ, biết say cái đẹp, biết đến với tình yêu như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ... lại phải có đôi nét phóng khoáng nghịch ngợm của Hồ Xuân Hương. Những đức tính ấy, phong cách ấy trong ngũ vị vương quan, thập vị Hoàng tử, Thập nhị tiên cô đều không có đủ. Vị này có nét này, vị kia có nét kia, song không ai có đầy đủ tất cả như ông Hoàng Mười". Do đó, ông Hoàng Mười là vị thần được thờ chính, là linh hồn của Mỏ Hạc Linh Từ.

Ông Trương Văn Thái, Trưởng Ban quản lý di tích đền ông Hoàng Mười cho biết: "Di tích đền ông Hoàng Mười còn có giá trị địa lý, cảnh quan lý tưởng, rất hấp dẫn du khách, thuận tiện giao thông và thuận lợi cho phát triển du lịch tâm linh. Di tích toạ lạc trên vùng đắc địa, rất "sơn thuỷ hữu tình". Phía sau là núi Dũng Quyết làm chỗ dựa vững chắc, phía trước là dòng Lam, dòng Mộc, dòng sông Vĩnh uốn lượn. Đền lại nằm giữa một cánh đồng lúa bát ngát, biệt lập với làng mạc nên không khí hài hoà, trong lành, tĩnh lặng. Thật sự là nơi: "Thánh nhân nghe được sự tâu bày của chúng sinh nhiều hơn trong không gian êm ả tụ linh này".

Cách đền không xa về phía Đông Bắc là quần thể di tích về Phượng Hoàng - Trung Đô, nơi xưa kia vua Quang Trung chọn làm nơi đóng đô. Tất cả đã hợp thành một bức tranh sinh động, có núi, có sông, đồng ruộng, làng mạc, mà điểm sáng là ngôi đền linh thiêng thờ ông Hoàng Mười.

Một chút hiểu biết về Thần Quyền

Thần Quyền còn được gọi là Vỏ Tổ , Phật Quyền , Thần vỏ Đạo v.v.....nhưng tựu chung cũng là cấp Thần mà thôi ! thường kẻ mới nhập môn thì được ông Thầy dùng nhang khoán Bùa thổi trên đỉnh đầu , tam tinh (trán) 2 bên 2 lổ tai , trước ngực sau lưng , 2 cánh tay , rồi cho môn sinh đó uống 1 ly nước Bùa có cấp vị Tổ vỏ nào đó theo hộ từ đó , và để cho tân môn sinh đó kêu , luyện mỗi ngày cho tới thành thục rồi sẻ luyện môn khác ! Sau khi uống xong ly nước phép đó rồi ông Thầy đó sẻ cho đệ tử ấy đứng chấp 2 tay lại hoặc 2 tay cầm 2 cây nhang giăng ngang thẳng ra và đọc câu thần chú để xuất quyền , đọc liên tục , đọc đến khi nào người đệ tử thấy người mình chuyển khác lạ thì nương theo đó mà luyện , có người lên mạnh , người lên yếu , người chậm người nhanh tùy căn cơ , và xác "nặng , nhẹ " , đặc điểm của Thần Quyền là bị đánh không đau , sức mạnh phi phàm , ra đòn nhanh lẹ và dũng mãnh không sợ đao kiếm , roi côn v.v....

Cấm kỵ của Thần Quyền cũng nhiều cái khác nhau giửa các môn phái , tuy nhiên những điều cơ bản chung là :
Không Phản Tổ , phản Thầy
Không tửu sắc , tà dâm
Không tham lam , trộm cắp
Không cậy mạnh hiếp yếu
Không ăn chó , trâu , mèo , khỉ , cá gáy.

Nếu phạm thì sẻ bị Tổ hành , vật , bắt ăn miểng chai , ngâm mình dưới sông , leo lên tuột xuống 1 cây dừa , cây đa cao nào đó v.v....trầy sát cả mình mẩy , khi đó phải có những người trong Môn Đạo đến đọc Chú đốt nhang xin giải thì mới hết !

Thần Quyền lên nhập xác có thể đánh Hầu quyền , Long quyền , Hổ quyền , Ưng quyền v.v....nói chung là thập bát ban vỏ nghệ cùng các thứ binh khí (chỉ có phi đao tui chưa có dịp thấy qua), có kẻ khi Thần về nhập xác phi thân nhảy lên nóc nhà 4 , 5 thước như chơi , khi đi bài quyền chuyển tấn , dậm tấn nghe rầm rầm rúng động cả mặt đất , sức mạnh dử lắm , mắt của kẻ Thần nhập xuất quyền lúc đó đứng tròng , đồng tử không đảo , không liếc ngang dọc chỉ nhìn thẳng , nhưng rất tinh tế không hề ngả , đụng bất kỳ chướng ngại đồ vật nào xung quanh ! người luyện Vỏ Thần thì thường có luyện luôn môn Gồng , những người học các môn này thường thì rất hiền , và không bao giờ ra tay đánh người trước (trừ những kẻ "ba mớ " ngựa non háu đá ), chỉ để hộ thân và làm việc nghĩa cứu khổn phò nguy giúp bá tánh mà thôi , những người luyện lâu môn này cũng có thể biết thêm các thứ : chửa bệnh , mở ếm , gở thư , trừ tà v.v..... gọi là nghề văn nghiệp vỏ theo tiếng bình dân của họ ! sau đây là bài chú xuất quyền của Vạn Thiên Giới Linh Thần Quyền :

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT (12 lần)
NAM MÔ BÁT VƯƠNG PHẬT (9 lần)
NAM MÔ SƯ TỔ HỘI VẠN THIÊN GIỚI LINH (9 lần)
NAM MÔ SƯ PHỤ HỘI VẠN PHÁP TÔN LINH (7 lần)
NAM MÔ ĐẠI HÙNG LỰC CHÍ NGUYỆN ĐỘ TÂM LINH (3 lần )
Độ đệ tử....tên họ tuổi....Thần Quyền vô địch , thần cước vô song ,để đệ tử phò trì chánh Đạo.


Nhìn chung khi học bất khi 1 môn gì mà có sử dụng thần chú, hoặc chịu sự chi phối của thầy thì tức là mình đã giao phó thân xác của mình cho Thầy, cho môn Phái, thân xác của mình cũng là thân xác chung cho các vị Thần. Do vậy nếu các vị bắt ăn uống, giữ giới thanh tịnh thì phải nghiêm túc tuân thủ, nếu phạm giới tất sẽ bị trừng phạt nặng nề.
Ngoài ra cũng có nhiều tà phái cũng lợi dụng huyền thuật để chi phối người khác. Ngay như trường hợp giáo phái AUM bên Nhật là 1 ví dụ điển hình. Không phải tự nhiên mà những người trong giáo phái đó cứ tin tà tà theo ông Thầy. thực chất ông Thầy này cũng đã bị Ma chướng (phải là loại Ma rất cao như Thiên Ma) nhập vào người.
Nhiều người tu hành một thời gian đệ tử theo rất đông, có nhiều tài phép rồi sau đó bị Ma chướng nhập vào làm điều bậy bạ...mất hết uy tín, cái đó đều do bị các ma chướng lớn xâm nhập. Với người bình thường chúng ta, thân đầy ô uế thì chỉ cần vài loại ma nhỏ như tinh mỵ là đủ chết rùi!

xin kể một câu chuyện về TSTQ :
Quê tôi ở gần biển,người dân ở vùng này chủ yếu làm nghề thợ mộc phải làm xa ở các tỉnh có rừng và anh em thợ tìm thấy môn này đầu tiên ở Cao Bằng.Anh em trong xã hầu hết tập luyện môn này và đấu nhau rầm rầm gây dư luận ko tốt,có những đệ tự còn bị công an xã bắt giam,bà con ko ai ủng hộ vì những hiện tượng thắp hương ,khấn vái và đánh nhau gây mất trật tự làng xã

Trong đó 2 em trai của tôi cũng làm thợ mộc và theo môn này
Điều chú ý đầu tiên ,tôi thấy cậu em trai út của tôi tập ngoài vườn. Em tôi thì chưa từng học võ bao giờ nhưng đi những đường quyền rất đẹp :đá vút cao,ngã lộn người xây xát mà ko thây đau ,thậm chí đá vào vật cứng lột cả da chân mà ko thấy ngại gì.Tôi bắt dầu tìm hiểu xem có điều gì mê tín ko?? và tôi hỏi các bí quyết của môn này(lúc đó tôi đã vào ngành công an rồi_tôi vào ngành công an năm 1976):Thế nào là tự do tìn ngưỡng??
-Tự do :là được quyền lựa chọn
-Tín:là niềm tin
-Ngưỡng:là sự ngưỡng mộ
-Mê tín:là tin vào điều ko có sự thật
-Chính tín:là tin vào điều ko có sự thật
Như vậy những điều gì mà qua thực tế có thực,làm thực thì ta ko sợ mê tín

VÀO MÔN

Tôi cũng rất lo một môn võ có nhiều điều kì diệu như vậy mà vẫn nằm trong huyền bí_hay còn gọi là môn võ bí truyền bị mai một thì sẽ dần quên lãng.Đệ tự ít dần và những người làm được những điều kì diệu ko còn và thế hệ tiền bối cao tuổi sẽ mất đi thì tiếc quá!

Người nhập môn ngoài những tiêu chuẩn đã nêu trên thì khi nhập môn còn có những lời thề của môn hay còn gọi là môn quy.Nói chung những lời thề thường nêu cao cái đức của con người.Ví dụ:hết lòng hiếu thảo với cha mẹ, ko phản thầy, ko phản môn, hết lòng hiệp nghĩa, ko ham mê tửu sắc...

Điều kiêng kị(ăn):kiêng thịt chó,thịt trâu,cá chép,bia rượu ko uống say
sau đó người thầy sẽ thổi hương vào người mình,các vị trí huyệt,chỗ yếu điểm của cơ thể,chố hay tiếp xúc với va chạm sẽ được thổi kĩ hơn và sau đó thầy sẽ cho mình câu thần chú để đọc(câu này sẽ đọc suốt khi tập,khi chiến đấu và khi xin các việc khác)

Ghi chú:thần chú sẽ có loại khi tập luyện.loại chú độc để hạ địch thủ nguy hiểm

Người đang vào khi đọc thần chú sẽ có cảm giác ngã đổ xuống
và khi đổ xuống là được(có cả thức ăn riêng khi tập luyện môn này_ gọi là bùa).Người mới vào môn này ta ví như đứa trẻ mới sinh ra.Bắt đầu là cựa quậy,rồi lẫy,,ngồi dậy,bò rồi từ từ đứng dậy và đi chập chững.....chạy...
Người mới vào môn này cũng vậyhải lăn lộn trên mặt đất ,cát sỏi đá..tất cả những nơi mình tập.Người lăn ít thì một ngày,người lăn nhiều thì nửa tháng đến một tháng .Nhưng theo kinh nghiệm thì lăn càng nhiều càng tốt sau đó chao đảo đứng lên như người say rượu,tay khuâ khoắng,chân đi chuệnh choạng chữ chi,dần dần co duỗi quỳ lộn....đá tạo thành các đường võ tuyệt đẹp,càng về sau tập luyện có phần nhàn nhã hơn và hơi thở đọc chú phát ra to dần(nghe như bơm xe đạp).Phần khí trong người phát triển dần(đây là phần chịu đòn,chịu lực ngã)thậm chí dộng đầu gối xuống gạch tím cả đầu gối mà vẫn chịu được(có phần về tâm linh giúp đỡ)

Trước khi vào môn này tôi nghe anh em nói khi vào môn sẽ có những khả năng sau:bản thân chịu đòn tốt,đòn của mình đánh ra mạnh gáp 6 đòn thường ( tựa như có nọc,khó chữa),được hộ mạng khi gặp lâm nguy,tự xin được các thế võ mà mình chỉ biiết tên hoặc muốn đi lại các thế võ hay khi xem trên phim ảnh.Vào 3 tháng là có thể hạ được võ sĩ
KHi chiến đấu hầu hết phụ thuộc vào dường quyền của tự nhiên dẫn,chữa bệnh và chữa thương bằng thổi hương.Có thể ăn được chén bát,bóng đèn(nếu ai muốn tập thêm)
Nếu ai vi phạm lời thề sẽ bị xử phạt tự nhiên

Huyền thoại võ phái Thất Sơn Thần Quyền

Huyền thoại võ phái Thất Sơn Thần Quyền
Ông Đạo Ba ẩn cư ở Học Lãnh Sơn - Nhân chứng cuối cùng của Thất Sơn Thần Quyền.

Năm1859, Pháp chiếm Nam Kỳ lục tỉnh. Nhiều chí sĩ, nghĩa sĩ đã tụ quân kháng chiến cứu nước ở vùng Bảy Núi, tức Thất Sơn (nay thuộc tỉnh An Giang). Trước sức mạnh vũ khí hiện đại của quân Pháp, lực lượng nghĩa quân chỉ có binh khí thô sơ và lòng quả cảm. Những người chỉ huy phải sử dụng đến "vũ khí tâm linh" để tiếp thêm sức mạnh cho binh sĩ. Võ phái Thất Sơn Thần Quyền ra đời từ đó.

Dấu vết truyền thuyết

Hiện nay, truyền nhân duy nhất và cuối cùng của Thất Sơn Thần Quyền là võ sư Hoàng Bá, cư ngụ tại cầu Tầm Bót, TP Long Xuyên, tỉnh An Giang. Đã 75 tuổi, gần 20 năm nay, võ sư Hoàng Bá đóng cửa võ đường, không thu nhận đệ tử nữa. Ông cho biết, bản thân ông chỉ lĩnh hội được một số tuyệt kỹ thuộc về phần "dương công” chứ không nắm được nhiều những bí quyết "âm công".

Theo ông thì: "Thất Sơn Thần Quyền là một môn phái cận chiến thực dụng, chỉ hữu ích trong chiến đấu thuở gươm đao xưa. Người võ sinh có những phương pháp luyện tập dị biệt. Vì bài quyền không có lời thiệu nên bị tam sao thất bản. Ngoài quyền cước, võ sinh còn được trang bị thêm niềm tin huyền bí để tạo sự tự tin, bình tĩnh. Trong chiến đấu, sự tự tin, bình tĩnh chiếm 50% thắng lợi".

Thất Sơn Thần Quyền chính tông gồm 2 phần: Quyền và thuật. Quyền là phần "dương công" gồm những thế võ cận chiến tay không và giáp chiến binh khí. Thuật là phần "âm công" huyền bí, dùng năng lượng siêu nhiên trợ lực. Chỉ đệ tử duy nhất được chọn kế thừa chưởng môn mới được sư phụ truyền dạy phần "âm công".

Vào năm 1957, người dân sinh sống dưới chân núi Sam (Châu Đốc, An Giang) vẫn còn thấy một đạo sĩ gầy, râu tóc bạc phơ, tu luyện trong rừng sâu trên đỉnh núi. Không ai biết thân thế, tên tuổi thật của ông. Chỉ thỉnh thoảng gặp và thấy ông không bao giờ rời lưng ngựa. Ông trông rất ốm yếu nhưng lại cưỡi ngựa không yên cương. Dốc núi gập ghềnh đá, ông phải có sức mạnh phi thường mới có thể cưỡi ngựa lên đỉnh xuống vồ. Vì thế, người dân địa phương gọi đùa là ông Đạo Ngựa.

Một lần dong ngựa xuống núi đổi rau củ lấy gạo, bắt gặp một toán cướp dùng súng uy hiếp người dân, ông xuống ngựa can thiệp, bị toán cướp xông vào vây đánh. Chỉ bằng một ngón tay, ông đã khiến một tên cướp trợn dọc mắt, ngã lăn bất tỉnh. Tên cướp khác toan nổ súng. Ông rùng mình một cái “bay” đến cạnh tên cướp tước súng rồi vung chân múa tay đánh gục hết những tên còn lại. Xong, ông ung dung lên ngựa trở về núi. Biết chuyện, nhiều thanh niên thán phục, rủ nhau lên núi tìm ông xin học võ. Không ai tìm được nơi trú ẩn của ông.

Tuy nhiên, có một người thanh niên quyết tâm tìm ông cho được. Người thanh niên này bò lên đỉnh núi Sam tìm nơi ngồi thiền lâm râm khấn: Khi nào gặp được sư phụ mới chịu xuống núi. Sau hai ngày chịu nắng mưa, đói khát giữa rừng sâu núi thẳm, người thanh niên ấy ngất xỉu. Khi tỉnh lại thì thấy mình nằm trong một hang động. Kể từ ngày đó, người thanh niên ấy trở thành đệ tử chân truyền của Đại sư Đạo Ngựa. Ngoài anh ra còn có một tiểu đồng tên Ba giúp ông Đạo Ngựa nhang khói.

Trong những ngày thọ đạo, người thanh niên ấy mới biết sư phụ mình là đệ tử kế thừa chưởng môn Thất Sơn Thần Quyền của Nam Cực Đường do Đại sư Bảy Do lập từ đầu thế kỷ XX, đào tạo nghĩa sĩ kháng Pháp. Năm 1917, quân Pháp bao vây bắt Đại sư Bảy Do đày ra Côn Đảo. Năm 1926, tại nhà lao Côn Đảo, Đại sư Bảy Do cắn lưỡi cho máu chảy đến chết.

Học được gần 1 năm, đã hết phần "dương công" chuẩn bị bước sang phần "âm công", người thanh niên ấy xin về nhà giỗ cha. Khi trở lại núi Sam, người thanh niên không tài nào tìm được hang động cũ. Nghĩ rằng, sư phụ muốn lẩn tránh mình, người thanh niên ấy đành lạy tạ hư không rồi xuống núi. Từ ngày đó cũng không ai còn thấy bóng dáng ông Đạo Ngựa đâu nữa.

Người thanh niên ấy chính là lão võ sư Hoàng Sơn.

Năm 1960, trong một trận thi đấu tranh giải võ thuật khu vực Đông Nam Á, võ sĩ Hoàng Sơn đại diện đoàn Việt Nam đấu với võ sĩ Kh'mer tên Nosar. Vào hiệp 1, chỉ sau vài chiêu giao đãi, võ sĩ Sonar xin dừng trận đấu vì nhận ra đồng môn. Hóa ra, Nosar cũng là đệ tử của Thất Sơn Thần Quyền. Năm 1970, ông Nosar trở thành Phó chủ tịch Hội đồng Võ thuật Campuchia đã đào tạo ra những võ sĩ "thần quyền" nổi tiếng Campuchia như Nosar Long, Nosar Lieng.

Phát hiện võ sĩ Hoàng Sơn là truyền nhân của Thất Sơn Thần Quyền. Năm 1968, đại lão võ sư Đoàn Tâm Ảnh tìm đến tận nhà Hoàng Sơn đề nghị quy tựu những người hiểu biết về Thất Sơn Thần Quyền để sưu tầm một môn phái đã bế truyền. Do chỉ biết phần "dương công" tức phần "quyền" nên Hoàng Sơn chỉ dám trương cờ Thất Sơn Võ Đạo tại Long Xuyên. Lá cờ nền đỏ có thêu hình 7 ngọn núi màu đen. Đại lão võ sư Đoàn Tâm Ảnh đứng chân tại đó làm cố vấn cho Thất Sơn Võ Đạo.

Chỉ trong một thời gian ngắn, 10 võ sư từ các nơi nghe tin đã quy tụ về góp sức phục hồi Thất Sơn Võ Đạo, gồm: Nguyễn Thành Diệp, Phùng Vũ Châu (Tư Tiếp), Nguyễn Giầu, Nguyễn Thọ, Nguyễn Thôi, Lê Đình Tây, Trần Văn Tủy, Lê Minh Nho, Sáu Rẩm, Hoàng Bá (trẻ tuổi nhất).

Võ sư Hoàng Bá - Đệ tử cuối cùng của Thất Sơn Thần Quyền.

Trong số này, chỉ có đại lão võ sư Nguyễn Thành Diệp là người may mắn nắm giữ được nhiều bí quyết phần "âm công" nhất. Tiếc rằng, chưa kịp hệ thống lại ông đã qua đời năm 1970. Những bí ẩn của Thất Sơn Thần Quyền xem như chìm vĩnh viễn vào hư vô.

Tuy không còn lưu giữ được các bí thuật huyền diệu nhưng Thất Sơn Võ Đạo cũng đào tạo được rất nhiều võ sĩ nổi tiếng. Nhiều trận thư hùng khu vực giữa các võ đường danh tiếng Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines đều có mặt võ sĩ Thất Sơn Võ Đạo.

Trận giao đấu tốn nhiều giấy mực của các ký giả thể thao miền Nam lúc ấy là trận Hoàng Thọ, đệ tử của võ sư Hoàng Sơn (môn phái Thất Sơn Võ Đạo) đấu với võ sĩ Tinor (môn phái Trà Kha) vào năm 1973 trong Đại hội Võ thuật tại Sài Gòn. Tinor là võ sĩ Lào được báo chí đặt cho biệt danh "Cọp bay" bởi chiêu song cước. Nhiều võ sĩ đã phải đo ván bởi cú đá bay nhanh như chớp và chính xác như công thức của võ sĩ này.

Trận trước, "Cọp bay" Tinor thi đấu với võ sĩ Dương Văn Me (sau này là võ sư Huỳnh Tiền). Khi mới vào kẻng, võ sĩ Dương Văn Me chưa kịp chuẩn bị, "Cọp bay" Tinor đã bay người tung cú đá từ phía sau. Dương Văn Me bị gãy xương sườn, trọng tài xử thua. Dưới khán đài, một cuộc ẩu đả xảy ra giữa hai phe cổ động viên. Bất phục, võ sĩ Hoàng Thọ nhảy lên võ đài thách đấu, các đại lão võ sư cả hai phía chấp nhận để vãn hồi trật tự dưới khán đài. Do đó là trận thách đấu nên được ban tổ chức thu xếp vào ngày cuối cùng và nằm ngoài giải đấu.

Khi võ sĩ Hoàng Thọ và "Cọp bay" Tinor thượng đài, ai cũng ái ngại cho Hoàng Thọ vì anh chỉ là một võ sĩ chưa tên tuổi lại thấp hơn "Cọp bay" Tinor một cái đầu. Vào hiệp 1, "cọp bay" Tinor xông lên áp đảo Hoàng Thọ vào góc đài. Chờ Hoàng Thọ lúng túng trong góc chết, "Cọp bay" Tinor tung một cú đá thốc từ dưới bụng lên. Hoàng Thọ dính đòn bật ngửa. Ai cũng tưởng Hoàng Thọ nằm vĩnh viễn trước cú đá bạt sơn của võ sĩ phái Trà Kha. Không ngờ Hoàng Thọ tung mình đứng lên, mặt đỏ au, mắt trợn ngược, tóc tai dựng đứng, tay chân vung đánh loạn xạ không theo một bài bản nào.

"Cọp bay" Tinor vừa chống đỡ vừa lùi ngược. Hoàng Thọ thét một tiếng rồi vung chân đá thẳng. Cú đá bay thẳng vào hàm Tinor. Tiếng xương hàm vỡ phát ra cùng lúc với tiếng kẻng kết thúc hiệp 1. Tinor đầu hàng, được đưa về võ quán ở Lào để điều trị rồi chết sau đó vài tháng. Hoàng Thọ trở nên nổi tiếng với bài "Thần quyền giáp chiến" của Thất Sơn Võ Đạo. Đó là 1 trong số 3 bài quyền còn nguyên vẹn phần quyền (võ) lẫn thuật (phép).

Theo hướng dẫn của võ sư Hoàng Bá, chúng tôi tìm đến Học Lãnh Sơn để gặp một đạo sĩ chỉ có cái tên duy nhất là ông Ba. Ông Ba cất một cái am u tịch giữa lưng chừng ngọn Học Lãnh Sơn để luyện đạo. Ông Ba đã 99 tuổi. Thuở thiếu niên, ông Ba làm tiểu đồng cho ông Đạo Ngựa để học đạo.

Ông Ba cho biết, ông không học võ thuật mà chỉ học đạo, nhưng cũng được sư phụ kể cho nghe về xuất xứ môn võ này.

Do có xuất xứ từ vùng Bảy Núi linh thiêng nên người đời gọi là Thất Sơn Thần Quyền. Môn võ này có 4 phần luyện là tam đạo nhất thần: Tu tâm dưỡng tính gọi là tâm đạo, định thần dưỡng khí gọi là thể đạo, luyện thân tráng kiện gọi là quyền đạo. Phần luyện thứ tư gọi là luyện thần. Tổ sư của môn phái võ này chính là… Chàng Lía - Một thủ lĩnh nông dân ở Bình Định. Chàng Lía chỉ huấn luyện cho nghĩa binh phần tam đạo chứ chưa có phần nhất thần.

Khi phong trào kháng chiến của Chàng Lía bị triều đình đàn áp, giải tán, một đại đệ tử là Hải Đề Long dẫn một số đệ tử chạy trốn từ miền Trung vào Nam trú ở vùng núi Tô Châu lánh trần tu tịnh. Trong số đệ tử có một người tên Nguyễn Văn Đa rất giỏi. Thời Thiệu Trị, Nguyễn Văn Đa thi đậu võ cử nhân nên được gọi là Cử Đa.

Võ sư Nosar (Campuchia), nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Võ thuật Campuchia năm 1974, cũng là một đệ tử của Thất Sơn Thần Quyền.

Pháp chiếm lục tỉnh, triều đình nhu nhược trước quân Pháp, ông Cử Đa thất vọng từ quan về vùng Thất Sơn đứng dưới cờ kháng chiến của nghĩa quân Trần Văn Thành (quản cơ Trần Văn Thành) vào năm 1862, nghĩa quân Trần Văn Thành trú đóng dưới chân núi Liên Hoa Sơn (căn cứ Láng Linh, Bãi Thưa).

Láng Linh - Bãi Thưa là hai cánh đồng rộng nằm liền kề, có nhiều đầm lầy, lau sậy và vô số cây thưa um tùm, tăm tối. Căn cứ chính của Trần Văn Thành có tên là Hưng Trung doanh, đặt tại trung tâm rừng Bãi Thưa (nay thuộc xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú, An Giang). Ông Cử Đa trở thành người huấn luyện võ thuật cho quân kháng chiến. Thua kém về vũ khí, để trấn an tinh thần nghĩa quân, thủ lĩnh nghĩa quân Trần Văn Thành giao cho Ngô Lợi huấn luyện quân.

Trần Văn Thành sinh năm 1820 ở ấp Bình Phú, làng Bình Thạnh Đông, tổng An Lương, quận Châu Phú Hạ, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc xã Phú Bình, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang). Năm 1840, ông được cử làm suất đội trong chiến dịch giải giáp Nặc Ông Độn (em vua Cao Miên, khởi quân chống lại nước Nam). Năm 1845, ông được thăng làm Chánh quản cơ, coi 500 quân, đóng quân ở Châu Đốc để giữ gìn biên giới phía Tây Nam.

Vùng Thất Sơn, An Giang địa hình hiểm trở, có nhiều cọp beo, rắn rết cùng những loại cây ăn thịt (dân gian gọi là ngãi) khiến nhiều người bỏ mạng mất xác khi thâm nhập. Nghĩa sĩ kháng chiến tận dụng ưu thế bí hiểm của núi rừng thêu dệt nên những câu chuyện linh thiêng nhằm hạn chế sự đột nhập của mật thám Pháp.

Sau một thời gian dài chuẩn bị, năm 1872, Trần Văn Thành chính thức phất cờ chống Pháp, lấy hiệu là Binh Gia Nghị. Năm 1873, Tổng đốc Trần Bá Lộc dẫn quân Pháp đánh vào Bảy Thưa. Ông Trần Văn Thành tử trận. Cuộc khởi nghĩa thất bại. Quân Pháp tàn sát nghĩa quân. Ông Ngô Lợi thoát nạn, sau này quay trở về Láng Linh tiếp tục chiêu mộ nghĩa quân dưới danh nghĩa tôn giáo chờ thời cơ.

Riêng ông Cử Đa cải trang thành một vị sư lấy tên là Sư Bảy, giả điên khùng, lưu lạc nhiều nơi để tránh sự truy lùng của quân Pháp. Có lúc ông phải lánh sang Campot, Campongtrach, đến núi Tà Lơn tức Bokor (Campuchia). Đến năm 1896, ông Cử Đa mới trở về vùng núi Cấm lập am ẩn danh.

Khi nhập môn, võ sinh của Thất Sơn Thần Quyền học bài vỡ lòng là bài khấn tổ: “Nam mô tổ sư tam giáo đầu sư Dương Gia, Chàng Lía, cha Hồ, chúa Nhẫn, tổ sư Hải Đề Long núi Tô về cảm ứng nhậm lễ chứng miên cho đệ tử...". Sau đó, người võ sĩ được học những bài chú kêu gọi các đấng siêu nhiên nhập xác (như lên đồng) ứng chiến. Về quyền thế, Thất Sơn Thần Quyền có nhiều bài hay như: Linh miêu đoạt thạch, Tam sơn trấn ải, Mãnh hổ tọa sơn...

Ngày nay, Thất Sơn Thần Quyền chỉ còn là ký ức của những võ sư miệt đồng bằng sông Cửu Long. Dù không ai chứng minh được sự mầu nhiệm của môn phái này nhưng xuất xứ của Thất Sơn Thần Quyền gắn liền với một trang sử hào hùng, bất khuất của dân tộc Việt. Đó là điều cần ghi nhận
 
 https://www.facebook.com/0ThatSonThanQuyen0
 
Hình ảnh: Huyền thoại võ phái Thất Sơn Thần Quyền
Ông Đạo Ba ẩn cư ở Học Lãnh Sơn - Nhân chứng cuối cùng của Thất Sơn Thần Quyền.

Năm1859, Pháp chiếm Nam Kỳ lục tỉnh. Nhiều chí sĩ, nghĩa sĩ đã tụ quân kháng chiến cứu nước ở vùng Bảy Núi, tức Thất Sơn (nay thuộc tỉnh An Giang). Trước sức mạnh vũ khí hiện đại của quân Pháp, lực lượng nghĩa quân chỉ có binh khí thô sơ và lòng quả cảm. Những người chỉ huy phải sử dụng đến "vũ khí tâm linh" để tiếp thêm sức mạnh cho binh sĩ. Võ phái Thất Sơn Thần Quyền ra đời từ đó.

Dấu vết truyền thuyết

Hiện nay, truyền nhân duy nhất và cuối cùng của Thất Sơn Thần Quyền là võ sư Hoàng Bá, cư ngụ tại cầu Tầm Bót, TP Long Xuyên, tỉnh An Giang. Đã 75 tuổi, gần 20 năm nay, võ sư Hoàng Bá đóng cửa võ đường, không thu nhận đệ tử nữa. Ông cho biết, bản thân ông chỉ lĩnh hội được một số tuyệt kỹ thuộc về phần "dương công” chứ không nắm được nhiều những bí quyết "âm công".

Theo ông thì: "Thất Sơn Thần Quyền là một môn phái cận chiến thực dụng, chỉ hữu ích trong chiến đấu thuở gươm đao xưa. Người võ sinh có những phương pháp luyện tập dị biệt. Vì bài quyền không có lời thiệu nên bị tam sao thất bản. Ngoài quyền cước, võ sinh còn được trang bị thêm niềm tin huyền bí để tạo sự tự tin, bình tĩnh. Trong chiến đấu, sự tự tin, bình tĩnh chiếm 50% thắng lợi".

Thất Sơn Thần Quyền chính tông gồm 2 phần: Quyền và thuật. Quyền là phần "dương công" gồm những thế võ cận chiến tay không và giáp chiến binh khí. Thuật là phần "âm công" huyền bí, dùng năng lượng siêu nhiên trợ lực. Chỉ đệ tử duy nhất được chọn kế thừa chưởng môn mới được sư phụ truyền dạy phần "âm công".

Vào năm 1957, người dân sinh sống dưới chân núi Sam (Châu Đốc, An Giang) vẫn còn thấy một đạo sĩ gầy, râu tóc bạc phơ, tu luyện trong rừng sâu trên đỉnh núi. Không ai biết thân thế, tên tuổi thật của ông. Chỉ thỉnh thoảng gặp và thấy ông không bao giờ rời lưng ngựa. Ông trông rất ốm yếu nhưng lại cưỡi ngựa không yên cương. Dốc núi gập ghềnh đá, ông phải có sức mạnh phi thường mới có thể cưỡi ngựa lên đỉnh xuống vồ. Vì thế, người dân địa phương gọi đùa là ông Đạo Ngựa.

Một lần dong ngựa xuống núi đổi rau củ lấy gạo, bắt gặp một toán cướp dùng súng uy hiếp người dân, ông xuống ngựa can thiệp, bị toán cướp xông vào vây đánh. Chỉ bằng một ngón tay, ông đã khiến một tên cướp trợn dọc mắt, ngã lăn bất tỉnh. Tên cướp khác toan nổ súng. Ông rùng mình một cái “bay” đến cạnh tên cướp tước súng rồi vung chân múa tay đánh gục  hết những tên còn lại. Xong, ông ung dung lên ngựa trở về núi. Biết chuyện,  nhiều thanh niên thán phục,  rủ nhau lên núi tìm ông xin học võ. Không ai tìm được nơi trú ẩn của ông.

Tuy nhiên, có một người thanh niên quyết tâm tìm ông cho được. Người thanh niên này bò lên đỉnh núi Sam tìm nơi ngồi thiền lâm râm khấn: Khi nào gặp được sư phụ mới chịu xuống núi. Sau hai ngày chịu nắng mưa, đói khát giữa rừng sâu núi thẳm, người thanh niên ấy ngất xỉu. Khi tỉnh lại thì thấy mình nằm trong một hang động. Kể từ ngày đó, người thanh niên ấy trở thành đệ tử chân truyền của Đại sư Đạo Ngựa. Ngoài anh ra còn có một tiểu đồng tên Ba giúp ông Đạo Ngựa nhang khói.

Trong những ngày thọ đạo, người thanh niên ấy mới biết sư phụ mình là đệ tử kế thừa chưởng môn Thất Sơn Thần Quyền của Nam Cực Đường do Đại sư Bảy Do lập từ đầu thế kỷ XX, đào tạo nghĩa sĩ kháng Pháp. Năm 1917, quân Pháp bao vây bắt Đại sư Bảy Do đày ra Côn Đảo. Năm 1926, tại nhà lao Côn Đảo, Đại sư Bảy Do cắn lưỡi cho máu chảy đến chết.

Học được gần 1 năm, đã hết phần "dương công" chuẩn bị bước sang phần "âm công", người thanh niên ấy xin về nhà giỗ cha. Khi trở lại núi Sam, người thanh niên không tài nào tìm được hang động cũ. Nghĩ rằng, sư phụ muốn lẩn tránh mình, người thanh niên ấy đành lạy tạ hư không rồi xuống núi. Từ ngày đó cũng không ai còn thấy bóng dáng ông Đạo Ngựa  đâu nữa.

Người thanh niên ấy chính là lão võ sư Hoàng Sơn.

Năm 1960, trong một trận thi đấu tranh giải võ thuật khu vực Đông Nam Á, võ sĩ Hoàng Sơn đại diện đoàn Việt Nam đấu với võ sĩ Kh'mer tên Nosar. Vào hiệp 1, chỉ sau vài chiêu giao đãi, võ sĩ Sonar xin dừng trận đấu vì nhận ra đồng môn. Hóa ra, Nosar cũng là đệ tử của Thất Sơn Thần Quyền. Năm 1970, ông Nosar trở thành Phó chủ tịch Hội đồng Võ thuật Campuchia đã đào tạo ra những võ sĩ "thần quyền" nổi tiếng Campuchia như Nosar Long, Nosar Lieng.

Phát hiện võ sĩ Hoàng Sơn là truyền nhân của Thất Sơn Thần Quyền. Năm 1968, đại lão võ sư Đoàn Tâm Ảnh tìm đến tận nhà Hoàng Sơn đề nghị quy tựu những người hiểu biết về Thất Sơn Thần Quyền để sưu tầm một môn phái đã bế truyền. Do chỉ biết phần "dương công" tức phần "quyền" nên Hoàng Sơn chỉ dám trương cờ Thất Sơn Võ Đạo tại Long Xuyên. Lá cờ nền đỏ có thêu hình 7 ngọn núi màu đen. Đại lão võ sư Đoàn Tâm Ảnh đứng chân tại đó làm cố vấn cho Thất Sơn Võ Đạo.

Chỉ trong một thời gian ngắn, 10 võ sư từ các nơi nghe tin đã quy tụ về góp sức phục  hồi Thất Sơn Võ Đạo, gồm: Nguyễn Thành Diệp, Phùng Vũ Châu (Tư Tiếp), Nguyễn Giầu, Nguyễn Thọ, Nguyễn Thôi, Lê Đình Tây, Trần Văn Tủy, Lê Minh Nho, Sáu Rẩm, Hoàng Bá (trẻ tuổi nhất).

Võ sư Hoàng Bá - Đệ tử cuối cùng của Thất Sơn Thần Quyền.

Trong số này, chỉ có đại lão võ sư Nguyễn Thành Diệp là người may mắn nắm giữ được nhiều bí quyết phần "âm công" nhất. Tiếc rằng, chưa kịp hệ thống lại ông đã qua đời năm 1970. Những bí ẩn của Thất Sơn Thần Quyền xem như chìm vĩnh viễn vào hư vô.

Tuy không còn lưu giữ được các bí thuật huyền diệu nhưng Thất Sơn Võ Đạo cũng đào tạo được rất nhiều võ sĩ nổi tiếng. Nhiều trận thư hùng khu vực giữa các võ đường danh tiếng Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines đều có mặt võ sĩ Thất Sơn Võ Đạo.

Trận giao đấu tốn nhiều giấy mực của các ký giả thể thao miền Nam lúc ấy là trận Hoàng Thọ, đệ tử của võ sư Hoàng Sơn (môn phái Thất Sơn Võ Đạo) đấu với võ sĩ Tinor (môn phái Trà Kha) vào năm 1973 trong Đại hội Võ thuật tại Sài Gòn. Tinor là võ sĩ Lào được báo chí đặt cho biệt danh "Cọp bay" bởi chiêu  song cước. Nhiều võ sĩ đã phải đo ván bởi cú đá bay nhanh như chớp và chính xác như công thức của võ sĩ này.

Trận trước, "Cọp bay" Tinor thi đấu với võ sĩ Dương Văn Me (sau này là võ sư Huỳnh Tiền). Khi mới vào kẻng, võ sĩ Dương Văn Me chưa kịp chuẩn bị, "Cọp bay" Tinor đã bay người tung cú đá từ phía sau. Dương Văn Me bị gãy xương sườn, trọng tài xử thua. Dưới khán đài, một cuộc ẩu đả xảy ra giữa hai phe cổ động viên. Bất phục, võ sĩ Hoàng Thọ nhảy lên võ đài thách đấu, các đại lão võ sư cả hai phía chấp nhận để vãn hồi trật tự dưới khán đài. Do đó là trận thách đấu nên được ban tổ chức thu xếp vào ngày cuối cùng và nằm ngoài giải đấu.

Khi võ sĩ Hoàng Thọ và "Cọp bay" Tinor thượng đài, ai cũng ái ngại cho Hoàng Thọ vì anh chỉ là một võ sĩ chưa tên tuổi lại thấp hơn "Cọp bay" Tinor một cái đầu. Vào hiệp 1, "cọp bay" Tinor xông lên áp đảo Hoàng Thọ vào góc đài. Chờ Hoàng Thọ lúng túng trong góc chết, "Cọp bay" Tinor tung một cú đá thốc từ dưới bụng lên. Hoàng Thọ dính đòn bật ngửa. Ai cũng tưởng Hoàng Thọ nằm vĩnh viễn trước cú đá bạt sơn của võ sĩ phái Trà Kha. Không ngờ Hoàng Thọ tung mình đứng lên, mặt đỏ au, mắt trợn ngược, tóc tai dựng đứng, tay chân vung đánh loạn xạ không theo một bài bản nào.

"Cọp bay" Tinor vừa chống đỡ vừa lùi ngược. Hoàng Thọ thét một tiếng rồi vung chân đá thẳng. Cú đá bay thẳng vào hàm Tinor. Tiếng xương hàm vỡ phát ra cùng lúc với tiếng kẻng kết thúc hiệp 1. Tinor đầu hàng, được đưa về võ quán ở Lào để điều trị rồi chết sau đó vài tháng. Hoàng Thọ trở nên nổi tiếng với bài "Thần quyền giáp chiến" của Thất Sơn Võ Đạo. Đó là 1 trong số 3 bài quyền còn nguyên vẹn phần quyền (võ) lẫn thuật (phép).

Theo hướng dẫn của võ sư Hoàng Bá, chúng tôi tìm đến Học Lãnh Sơn để gặp một đạo sĩ chỉ có cái tên duy nhất là ông Ba. Ông Ba cất một cái am u tịch giữa lưng chừng ngọn Học Lãnh Sơn để luyện đạo. Ông Ba đã 99 tuổi. Thuở thiếu niên, ông Ba làm tiểu đồng cho ông Đạo Ngựa để học đạo.

Ông Ba cho biết, ông không học võ thuật mà chỉ học đạo,   nhưng cũng được sư phụ kể cho nghe về xuất xứ môn võ này.

Do có xuất xứ từ vùng Bảy Núi linh thiêng nên người đời gọi là Thất Sơn Thần Quyền. Môn võ này có 4 phần luyện là tam đạo nhất thần: Tu tâm dưỡng tính gọi là tâm đạo, định thần dưỡng khí gọi là thể đạo, luyện thân tráng kiện gọi là quyền đạo. Phần luyện thứ tư gọi là luyện thần. Tổ sư của môn phái võ này chính là… Chàng Lía - Một thủ lĩnh nông dân ở Bình Định. Chàng Lía chỉ huấn luyện cho nghĩa binh phần tam đạo chứ chưa có phần nhất thần.

Khi phong trào kháng chiến của Chàng Lía bị triều đình đàn áp, giải tán, một đại đệ tử là Hải Đề Long dẫn một số đệ tử chạy trốn từ miền Trung vào Nam trú ở vùng núi Tô Châu lánh trần tu tịnh. Trong số đệ tử có một người tên Nguyễn Văn Đa rất giỏi. Thời Thiệu Trị, Nguyễn Văn Đa thi đậu võ cử nhân nên được gọi là Cử Đa.

Võ sư Nosar (Campuchia), nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Võ thuật Campuchia năm 1974, cũng là một đệ tử của Thất Sơn Thần Quyền.

Pháp chiếm lục tỉnh, triều đình nhu nhược trước quân Pháp, ông Cử Đa thất vọng từ quan về vùng Thất Sơn đứng dưới cờ kháng chiến của nghĩa quân Trần Văn Thành (quản cơ Trần Văn Thành) vào năm 1862, nghĩa quân Trần Văn Thành trú đóng dưới chân núi Liên Hoa Sơn (căn cứ Láng Linh, Bãi Thưa). 

Láng Linh - Bãi Thưa là hai cánh đồng rộng nằm liền kề, có nhiều đầm lầy, lau sậy và vô số cây thưa um tùm, tăm tối. Căn cứ chính của Trần Văn Thành có tên là Hưng Trung doanh, đặt tại trung tâm rừng Bãi Thưa (nay thuộc xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú, An Giang). Ông Cử Đa trở thành người huấn luyện võ thuật cho quân kháng chiến. Thua kém về vũ khí, để trấn an tinh thần nghĩa quân, thủ lĩnh nghĩa quân Trần Văn Thành giao cho Ngô Lợi huấn luyện quân.

Trần Văn Thành sinh năm 1820 ở ấp Bình Phú, làng Bình Thạnh Đông, tổng An Lương, quận Châu Phú Hạ, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc xã Phú Bình, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang). Năm 1840, ông được cử làm suất đội trong chiến dịch giải giáp Nặc Ông Độn (em vua Cao Miên, khởi quân chống lại nước Nam). Năm 1845, ông được thăng làm Chánh quản cơ, coi 500 quân, đóng quân ở Châu Đốc để giữ gìn biên giới phía Tây Nam.

Vùng Thất Sơn, An Giang địa hình hiểm trở, có nhiều cọp beo, rắn rết cùng những loại cây ăn thịt (dân gian gọi là ngãi) khiến nhiều người bỏ mạng mất xác khi thâm nhập. Nghĩa sĩ kháng chiến tận dụng ưu thế bí hiểm của núi rừng thêu dệt nên những câu chuyện linh thiêng nhằm hạn chế sự đột nhập của mật thám Pháp.

Sau một thời gian dài chuẩn bị, năm 1872, Trần Văn Thành chính thức phất cờ chống Pháp, lấy hiệu là Binh Gia Nghị. Năm 1873, Tổng đốc Trần Bá Lộc dẫn quân Pháp đánh vào Bảy Thưa. Ông Trần Văn Thành tử trận. Cuộc khởi nghĩa thất bại. Quân Pháp tàn sát nghĩa quân. Ông Ngô Lợi thoát nạn, sau này quay trở về Láng Linh tiếp tục chiêu mộ nghĩa quân dưới danh nghĩa tôn giáo chờ thời cơ.

Riêng ông Cử Đa cải trang thành một vị sư lấy tên là Sư Bảy, giả điên khùng, lưu lạc nhiều nơi để tránh sự truy lùng của quân Pháp. Có lúc ông phải lánh sang Campot, Campongtrach, đến núi Tà Lơn tức Bokor (Campuchia). Đến năm 1896, ông Cử Đa mới trở về vùng núi Cấm lập am ẩn danh.

Khi nhập môn, võ sinh của Thất Sơn Thần Quyền học bài vỡ lòng là bài khấn tổ: “Nam mô tổ sư tam giáo đầu sư Dương Gia, Chàng Lía, cha Hồ, chúa Nhẫn, tổ sư Hải Đề Long núi Tô về cảm ứng nhậm lễ chứng miên cho đệ tử...". Sau đó, người võ sĩ được học những bài chú kêu gọi các đấng siêu nhiên nhập xác (như lên đồng) ứng chiến. Về quyền thế, Thất Sơn Thần Quyền có nhiều bài hay như: Linh miêu đoạt thạch, Tam sơn trấn ải, Mãnh hổ tọa sơn...

Ngày nay, Thất Sơn Thần Quyền chỉ còn là ký ức của những võ sư miệt đồng bằng sông Cửu Long. Dù không ai chứng minh được sự mầu nhiệm của môn phái này nhưng xuất xứ của Thất Sơn Thần Quyền gắn liền với một trang sử hào hùng, bất khuất của dân tộc Việt. Đó là điều cần ghi nhận

Thất Sơn Thần Quyền - Một huyền thoại về môn phái võ

Một huyền thoại về môn phái võ Thất Sơn Thần Quyền

          Vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, làng võ Việt xôn xao bởi sự xuất hiện của một phái võ kỳ lạ, gọi là "võ bùa" hay "thần quyền". Người theo môn võ ấy không cần luyện tập quyền cước mà chỉ cần thổi hương, uống bùa, gọi thần chú là có sức mạnh muôn người khôn địch... Bởi cách thức có phần thần bí đó mà nhiều môn phái khác đã tìm các lò dạy võ bùa để tìm hiểu thực hư, phân tài cao thấp. Sự "truy sát" ấy, cùng nhiều lý do khác nữa nên chỉ ít thời gian sau, võ bùa phải lui vào ẩn dật.
Gần đây, trước sự nở rộ trở lại của phong trào học võ, lại có lời đồn võ bùa đang "tái xuất giang hồ". Chúng tôi đã đi tìm hiểu thực hư xung quanh môn võ này.
Cao nhân ẩn tích
Sau màn ra mắt vào những năm 80 của thế kỷ trước, võ bùa bỗng dưng mất hút một cách khó hiểu trên "chốn giang hồ". Không ai biết đệ tử của võ bùa ở đâu, hiện đang sống như thế nào, còn lao tâm khổ tứ tập luyện hay không?
Gần đây, một lần lang thang trên mạng, tôi tình cờ đọc được thông tin của một môn sinh "chánh phái" nói rằng, trước đây có hai cao thủ phái Thất Sơn đem võ bùa về dạy ở Hà Nội và chính họ là những sư phụ đầu tiên của môn phái ở đất Kinh kỳ. Thông tin trên mơ hồ, chỉ nói người thứ nhất tên Thành, làng võ vẫn gọi là Thành "vuông", người thứ hai tên là Chín, giang hồ gọi là Chín "cụt".
Liên hệ với một số cao thủ võ lâm ngoài Bắc thì được biết, Thành "vuông" tên đầy đủ là Nguyễn Văn Thành, từng sống ở khu vực Ô Chợ Dừa (Hà Nội), giờ đã qua Nga lập nghiệp. Người thứ hai là Chín "cụt", tên đầy đủ là Ngô Xuân Chín, là thương binh, hiện không biết phiêu dạt phương nào.
Thông tin trên làm tôi nhớ lại lần trò chuyện với võ sư Chu Há, Chủ nhiệm võ đường Hồng Gia. Võ sư Há cho biết, thuở trước Chín "cụt" có tham gia một số phong trào thể thao của người khuyết tật và ngay từ buổi đầu tiên ấy, Chín cùng đệ tử đã từng dùng võ bùa để giành huy chương vàng tại một hội khỏe năm 1986.
Nhờ manh mối này, tôi vội tìm đến ông Vũ Thế Phiệt, Tổng Thư ký Hiệp hội Thể thao người khuyết tật Việt Nam. Từ số điện thoại ông Phiệt cho, tôi đã tìm được "cao nhân" ẩn tích bấy lâu nay – ông Chín.
Phận duyên tiền định
Vợ chồng ông Xuân Chín hiện đang sống ở một khu đô thị yên ả trên đường Lạc Long Quân (Hà Nội). Trò chuyện, Xuân Chín bảo, Thất Sơn Thần Quyền với ông như có duyên trời định.
Thời trai trẻ, Chín là lính trinh sát đóng quân ở tỉnh biên giới Cao Bằng. Khi còn ở quê nhà, bởi hiếu động nên Chín từng theo đám trai làng lăn lộn học quyền cước của mấy võ sư vườn, cũng lận lưng dăm ba miếng phòng thân. Bởi thế, khi hay tin trong trung đoàn có một đồng đội thường diễu quyền, phóng cước sau khi xong xuôi việc nhà binh, Chín muốn tìm đến xem "mặt mũi" thế nào và nhân thể thử tài luôn để phân cao thấp.
Sau nhiều lần hò hẹn, "thằng cha" đó cũng nhận lời thách đấu. Thế nhưng sau 2 lần "tỉ thí", Chín đều thua không kịp vuốt mặt. Chín đấm, đá cật lực mà cứ như đánh vào bị bông, đối thủ chẳng hề đổi thay sắc mặt. Đánh nhiều đuối sức, chùn tay, nên đành phải xin thua.
Từ sau trận quyết đấu đó, hai người trở thành bạn. Lúc này Chín mới biết người kia theo học Thần Quyền của phái Thất Sơn, từ một sư phụ ở quê nhà, xã Văn Khúc, huyện Sông Thao, tỉnh Phú Thọ. Những câu chuyện mà người bạn kể về môn phái lạ lùng đã khiến Chín mê mệt. Anh ước ao có ngày được về quê bạn bái vị sư phụ ấy làm thầy.
Và rồi cái ngày anh mong mỏi ấy cũng đến. Được sự giới thiệu, ngay đêm hôm ấy, anh đã được diện kiến kỳ nhân. Người ấy là danh sư Nguyễn Văn Lộc, một nông dân chân chất, cũng chỉ hơn anh cỡ trên chục tuổi.
Thế nhưng hôm ấy, ý nguyện, mơ ước của anh đã không thành. Dù đã cố nài nỉ hết nước hết cái nhưng vị danh sư ấy vẫn không chịu thu nạp Chín làm đệ tử. Tuy mưu sự không thành nhưng anh vẫn không thôi hy vọng của mình.
Chừng tháng sau, anh lại tay nải từ Cao Bằng tìm về Phú Thọ. Lần này, thứ mà anh nhận được vẫn chỉ là những cái lắc đầu. Thế rồi, một lần (năm 1981), lúc đi làm nhiệm vụ, anh bị thương phải cắt bỏ hoàn toàn chân phải. Khi vết thương liền da, nhớ miền quê Văn Khúc và ông thầy võ... khó tính, anh lại lóc cóc tìm về.
Đi cùng anh lần này có cả Thành "vuông", một chàng trai Hà Nội, nghe tiếng vị sư phụ kỳ lạ mà háo hức muốn được tỏ tường. Gặp mặt, vị danh sư nói thẳng thừng: "Anh lành lặn tôi còn không nhận, huống chi nay đã là người tàn phế! Anh không học võ được đâu!". Câu nói đó đã làm ruột gan Chín quặn thắt. "Đau" hơn khi bạn đồng hành với anh, Thành "vuông", lại được sư phụ thu nạp.
Uất ức, trước khi ra về anh... thề: "Sư phụ nhận tôi thì 6 tháng tôi xuống một lần! Không nhận thì tháng nào tôi cũng xuống!". Tháng sau, một mình, anh xuống thật. Lần này, thấy anh lóc cóc chống nạng vượt quãng đường hơn 25 cây số từ ga Phú Thọ sang, vị danh sư đã động lòng trắc ẩn. Ông đã đồng ý truyền võ cho anh nhưng với điều kiện chờ ngày tốt, về Bắc Giang ông mới dạy.
Võ phái kỳ lạ
"Ngày tốt" ấy là ngày 09/10/1984. Đã hẹn trước, anh Chín có mặt tại nhà một người quen của sư phụ ở làng Mỹ Độ, sát thị xã Bắc Giang. Đến được ít phút thì sư phụ anh cũng xuất hiện. Ngay chiều hôm ấy, anh đã thành người của phái Thất Sơn. Cũng ngay ngày hôm ấy, anh mới tường tận về môn phái của mình.
Theo lời thầy Lộc thì "thủ phủ" của Thất Sơn Thần Quyền nằm ở Huế, do tông sư Nguyễn Văn Cảo nắm quyền chưởng môn. Sáng tổ Nguyễn Văn Cảo học Thần Quyền từ một vị cao tăng người Ấn Độ. Cao tăng lưu lạc sang Việt Nam từ khi nào thì đến giờ vẫn không ai biết rõ. Tới Việt Nam, ông chọn vùng Bảy Núi (An Giang) làm chốn tu hành (có lẽ bởi bậc thánh nhân tu luyện nơi non thiêng này nên thầy Cảo đã đặt tên môn phái của mình là Thất Sơn).
Dựa trên những căn bản mà vị tu sĩ lạ lùng ấy truyền dạy, thầy Cảo đã truyền dạy thần quyền cho nhiều người khác. Thần quyền học nhanh, do vậy chỉ trong thời gian ngắn, ở Huế đã có rất nhiều người trở thành môn đồ của võ phái này.
Khi nhập môn, môn đồ của môn phái phải đứng trước ban thờ thề đủ 9 điều (càng học cao thì số lời thề càng tăng thêm và cao nhất là 16 điều). Sau đó, mỗi người sẽ được sư phụ mình phát cho hai lá bùa hộ thân, một vuông, một dài. Trên những lá bùa ấy có vẽ hình đạo sĩ ngồi thiền và những "thông số", "mật mã" riêng của môn phái.
Trước khi truyền thụ những câu thần chú, bí kíp võ công của môn phái thì hai lá bùa ấy được đem đốt, lấy tro hòa vào nước cho người mới nhập môn... uống cạn. Thần chú của môn phái thì có rất nhiều, gồm chú gồng, chú xin quyền, chú chữa thương... Đã được truyền thần chú thì môn sinh cứ tự mình gọi chú mà xin sức mạnh, mà tập quyền cước.
Tuy thế, trước khi tập, người luyện thần quyền phải được sư phụ mình khai thông tất cả các huyệt đạo trên cơ thể. Việc ấy, các sư phụ của Thất Sơn thường làm bằng cách dùng nắm nhang đang nghi ngút khói thổi vào huyệt đạo của đệ tử. Với môn sinh là nam giới thì dùng 7 nén nhang thổi 7 lần vào mỗi huyệt đạo. Môn sinh là nữ thì dùng 9 nén, thổi đúng 9 lần. 
Thần chú vào... võ công ra
Anh Chín kể, hôm ấy, xong nghi thức nhập môn, sư phụ Lộc đã kéo anh ra sân và chỉ trong vòng 1 giờ đồng hồ, ông đã truyền thụ xong xuôi cho anh lời chú xin quyền.
Theo lời của sư phụ Lộc, lời chú ấy anh không được phép tiết lộ cho bất kỳ ai nếu chưa được phép của những người đứng đầu môn phái. Truyền chú xong, sư phụ anh bảo, cứ nhẩm theo câu chú ấy mà luyện. Chú "nhập" đến đâu thì công phu tự khắc... ra đến đó.
Thấy thầy dạy mình quá nhanh, anh hết sức ngạc nhiên. Cứ nghĩ, có lẽ bởi gượng ép khi thu nạp nên thầy Lộc mới dạy anh một cách sơ sài đến vậy. Sau này, khi trình độ bản thân được nâng cao, anh mới biết, với anh cuộc truyền thụ kỹ năng cơ bản của môn phái như vậy là quá lâu.
Thường thì khi truyền chú cho đệ tử khác, thầy Lộc chỉ làm trong thời gian vỏn vẹn 15 phút là xong. Anh cũng vậy, khi được phép dạy đệ tử, anh cũng chỉ mất ngần ấy thời gian là đã... hết bài. Còn học như thế nào, luyện như thế nào, trình độ đạt đến đâu là cơ duyên của mỗi người chứ thầy không chỉ bảo được.
Ngay chiều hôm ấy, thầy Lộc đã kéo anh ra khoảng sân rộng, bắt đầu luyện tập quyền pháp. Trước khi tập, thầy lấy nắm nhang nghi ngút khói thổi vào tất cả những huyệt đạo trên cơ thể anh. Làm xong, thầy bảo anh nhẩm đọc chú để... gọi võ về. Thật ngạc nhiên, khi vừa đọc chú xong, anh bỗng thấy mình lâng lâng như người say rượu. Lúc thì thấy tay mình nhẹ bẫng, lúc thì thấy nặng như đang khuân cả khối sắt trăm cân.
Chín kể, khi đã "nhập đồng", cứ thấy nhẹ bên tay nào là "chưởng" đánh ra tay ấy. Trạng thái không kiểm soát ấy đã khiến anh lúc thì lăn lộn trên đất, lúc thì nhảy tưng tưng trên không, lao đầu vào tường, vào bụi gai cũng không hề hay biết.
Tỉ thí tranh tài
Hết nghỉ phép, Xuân Chín về nơi an dưỡng. Vì đang chờ chế độ nên anh có nhiều cơ hội để luyện tập môn võ mà mình vừa được học. Cứ đêm đến, anh lại một mình chống nạng lên quả đồi ở gần đó luyện tập. Sáu tháng sau, anh quay lại Văn Khúc để thầy Lộc kiểm tra "trình độ".
Sau bữa cơm chiều, thầy Lộc bảo ông sẽ không trực tiếp kiểm tra mà nhờ thầy "cao tay" hơn thẩm định. Vị ấy tên Cư, nhà ở gần bến phà Tình Cương, cách nhà thầy Lộc chừng 15 cây số. Thần Quyền ở Văn Khúc chính là do ông Cư mang từ trong Huế ra truyền dạy.
Tối hôm đó, hai thầy trò đã đèo nhau đến nhà ông Cư. Biết Chín muốn thử trình độ của mình, ông Cư đã gọi hai đệ tử to như hộ pháp đến. Trước khi đánh, ông Cư giới thiệu, hai đệ tử của ông được gọi là những “cây đấu” của Thất Sơn. Những ai muốn "khẳng định thương hiệu" của riêng mình thì đều phải đánh với hai "cây đấu" ấy.
Ngay phút khởi động, một “cây đấu” đã táng thẳng vào mặt Chín cú "thôi sơn" khiến anh nổ đom đóm mắt. Nhưng ngay sau cú đánh ấy, anh thấy mình tự dưng lùi ra, quay hẳn lưng vào đối thủ. Chẳng cần để mắt động tác khó hiểu của anh, người tấn công lại ngay lập tức lao vào. Thế nhưng, vừa vào gần đến nơi thì bỗng nhiên tay phải Chín vung ra một cú đòn cực mạnh. Một tiếng “bốp” chát chúa vang lên, “cây đấu” ấy bị đánh văng ra góc sân và nằm bất động.
Thấy đệ tử mình bị hạ nhanh một cách khó hiểu, ông Cư vội vàng chạy đến xem thực hư thế nào. Cậu học trò cưng nằm im, mồm miệng be bét máu. Phần thắng đã thuộc về Chín.
Sắp xếp công việc, ít lâu sau, anh Chín lại theo thầy Lộc vào Huế để nhờ tông sư môn phái kiểm tra trình độ thật sự của mình. Chưởng môn phái Nguyễn Văn Cảo (phường Phú Cát, Huế) đã đón hai thầy trò anh rất thân tình.
Hôm ấy, nhà thầy Cảo có một đệ tử học Thần Quyền được 10 năm, từ Quảng Bình vào thăm. Thầy Cảo bảo Chín đấu với người này. Kịch bản của trận đấu ở Phú Thọ đã được lặp lại. Vào trận, ngay màn dạo đầu, Chín dính đòn tới tấp. Thế nhưng, trong lúc nguy nan, tự nhiên anh thấy chân mình mềm oặt. Xoay lưng lại đối thủ, anh quỳ xuống như người bị trúng đòn chí mạng. Đối thủ thấy vậy thừa thắng lao lên...
Nhưng, như có phép tiên, dù chỉ còn mỗi chân trái mà anh vẫn bật vút lên, lộn trên không một vòng rồi tung cú "thiết cước" vào thẳng bụng đối thủ. Cú đá ấy đã làm vị kia văng ra, thầy Cảo ngay lập tức cho dừng trận đấu. Sau trận đấu đó, bởi quá khâm phục sự tiến bộ kỳ lạ của anh, thầy Cảo đã cân nhắc để anh được thăng đai vượt cấp.
Thế nhưng, điều đó chưa từng có tiền lệ trong môn phái nên thầy đành để anh ở đai đỏ xuất sư. Người đeo đai đó thì đã có thể làm thầy, truyền thụ võ công cho những môn sinh khác. Sáu tháng sau, vào lại Huế, lần này chưởng môn Nguyễn Văn Cảo đích thân ra chợ mua chỉ về se đai tím cho anh.
Dựng nghiệp bất thành
Rời quân ngũ, anh Chín về quê sinh sống, thỉnh thoảng ra Hà Nội gặp gỡ bạn bè. Những năm ấy, phong trào chấn hưng võ thuật cổ truyền ở thủ đô đang ở cao trào, thấy Thất Sơn Thần Quyền của mình chưa có một tên tuổi trong làng võ Việt, anh và một số người bạn đã quyết tâm gây dựng môn phái.
Để khẳng định sức mạnh của Thần Quyền, Hội khỏe Phù Đổng năm 1986 được tổ chức ở Hà Nội, các bạn anh đã tiến cử anh tham gia. Chuẩn bị cho sự kiện này Chín đã lặn lội lên Cao Bằng, tìm cậu bé mà trước đây anh đã ngẫu hứng truyền thụ võ công, đưa về Hà Nội cùng mình biểu diễn. Cậu bé ấy tên Điệp, khi ấy vừa tròn 6 tuổi. 
Tại sân vận động Hàng Đẫy, với tiết mục Thần Quyền của mình, hai thầy trò một tàn phế, một tóc còn để chỏm đã dinh về hai tấm huy chương vàng trước sự trầm trồ, thán phục của mọi người.
Sau màn ra mắt, được sự "chỉ đường mách lối" của cố võ sư Đỗ Hóa, anh cùng các bạn đã tìm đến một chức sắc ở Hội Võ thuật cổ truyền Hà Nội nhằm đưa môn phái "phát dương quang đại". Thế nhưng, nhiều người cho rằng Thất Sơn Thần Quyền là tà thuật, mê tín dị đoan nên mong ước của anh đã không thể thành hiện thực.
Dựng phái không thành, anh em tan rã mỗi người một nơi, Xuân Chín đâm nản. Tuy thế, sau này, tham gia phong trào thể thao người khuyết tật, anh vẫn đem thần quyền đi biểu diễn ở khắp nơi.
Năm 2004, tại một cuộc liên hoan võ thuật tại Hàn Quốc, anh đã được ban tổ chức trao tặng huy chương vàng cho tiết mục Thần Quyền độc đáo của mình. Càng hạnh phúc hơn khi ngay sau đó, hình ảnh của anh, một người cụt chân đang thăng hoa cùng quyền thuật đã được ban tổ chức in lên lịch lưu niệm tặng các vận động viên tham gia.
Cũng từ dạo ấy, bởi cuộc mưu sinh anh đã xin thôi và không tham gia phong trào thể thao nữa. Thần quyền anh cũng ít tập hơn và cũng không truyền dạy bí kíp võ công này cho bất kỳ ai...


Một "thầy" dùng võ bùa chữa bệnh cho người dân ở Tri Tôn, An Giang.
Lời thề của môn phái Thất Sơn Thần Quyền:
Một lòng hiếu thảo với cha mẹ; Không phản môn phái; Không phản thầy; Không phản bạn; Coi bạn như anh em ruột thịt; Không cưỡng bức kẻ yếu; Không làm điều gian ác; Không ham mê tửu sắc; Không nản chí khi luyện tập; Không thoái lui lúc nguy hiểm; Luôn bảo vệ kẻ yếu; Nhịn kẻ mất lòng ta; Thi hành nghiêm chỉnh những lời thầy dạy; Ôn hòa trong tình bạn; Không tự cao tự đắc; Cứu người trong lúc nguy nan...
          THANH ĐÀO & THIỀU THÚC – Theo: www.nhantrachoc.net.vn

12 nhận xét:

Nguyễn Minh Huệ nói...
Đầu những năm 80 của thế kỷ trước, Tình Cương là một trong những “cái nôi” của phong trào tập luyện võ thuật theo phái Thất Sơn Thần Quyền (dân gian gọi là “võ bùa”). “Vị tên Cư” trong bài viết này tên thật là Nguyễn Phong Cư, sinh năm 1950, nhà ở chỗ lưng chừng dốc Chủ Chè, làng Tình Cương, xã Tình Cương. Từ năm 1980 – 1985 cao thủ Nguyễn Phong Cư đã huấn luyện được một số “đệ tử”, trong đó có 12 “môn sinh” đã có đẳng cấp khá cao (7 người ở Cẩm Khê, 3 cán bộ công an, 1 bộ đội và 1 ở Hải Phòng). Theo những người rành về môn này cho biết: “Thầy Cư” theo học “Thầy Cảo” (Nguyễn Văn Cảo, ở Huế) từ năm 1976 khi ông còn là công nhân xây dựng cầu đường ở miền Trung. Sau khi “đắc đạo”, Nguyễn Phong Cư về quê Tình Cương sinh sống và góp phần truyền bá môn “võ bùa” này cho khá nhiều người.
Một vị cao thủ thứ 2 ở Tình Cương tên là Nguyễn Trần Cương, nhà ở xóm Chùa, làng Tình Cương, xã Tình Cương (kém ông Cư vài ba tuổi, nhà ở phía sau Tổ Đình Long Khánh hiện nay). Ông Cương khá kín tiếng và cũng đã chiêu nạp được một số “đệ tử” rồi huấn luyện “võ bùa”, ngồi thiền,…
Những năm 1985 – 1986, có khá đông người từ khắp các nơi tụ tập về Tình Cương theo học môn Thất Sơn Thần Quyền do ông Cư và ông Cương hướng dẫn. Bên cạnh “cái được” của Thất Sơn Thần Quyền ở Tình Cương là xây dựng được phong trào tập luyện võ thuật nâng cao sức khỏe, tu thân tích đức,… thì cũng xuất hiện “cái chưa được” đó là “làm ảnh hưởng đến sản xuất và phong trào xây dựng nếp sống mới, gây mất trật tự an ninh ở địa phương”. Tháng 6 năm 1986, Công an huyện Cẩm Khê cho gọi 7 người có mặt ở các xã trong huyện đã vào “hội võ bùa” đến để giáo dục, kiểm điểm và cam kết từ bỏ. Phong trào tập luyện “võ bùa” từ đây không còn tấp nập như trước.
Ngày nay, thầy Nguyễn Văn Cảo cũng đã “ra đi cùng tiên tổ”, môn Thất Sơn Thần Quyền có còn hoạt động ở Tình Cương nữa hay không, có lẽ chỉ có ông Nguyễn Phong Cư và ông Nguyễn Trần Cương đều ở làng Tình Cương, xã Tình Cương mới chọn được câu trả lời chính xác.

Hoàng Lan nói...
Thất Sơn Thần Quyền là một môn phái võ cận chiến thực dụng, hữu ích trong chiến đấu tay không trực diện. Bản thân võ sinh phải rèn luyện những phương pháp dị biệt. Vì là bài quyền “mật”, không có lời giới thiệu nên bị tam sao thất bản. Ngoài quyền cước, võ sinh còn được trang bị thêm niềm tin huyền bí để tạo sự tự tin, bình tĩnh. Trong chiến đấu, sự tự tin, bình tĩnh chiếm 50% thắng lợi.
Thất Sơn Thần Quyền chính tông gồm 2 phần: Quyền và Thuật. Quyền là phần "dương công" gồm những thế võ cận chiến tay không và giáp chiến binh khí. Thuật là phần "âm công" huyền bí, dùng năng lượng siêu nhiên trợ lực. Chỉ đệ tử duy nhất được chọn kế thừa chưởng môn mới được sư phụ truyền dạy phần "âm công".
Khi nhập môn, võ sinh của Thất Sơn Thần Quyền học “vỡ lòng” bài khấn tổ. Sau đó, võ sinh được học những bài chú, kêu gọi các đấng siêu nhiên nhập xác để ứng chiến. Về quyền thế, Thất Sơn Thần Quyền có nhiều bài hay như: Linh miêu đoạt thạch, Tam sơn trấn ải, Mãnh hổ tọa sơn...
Ngày nay, Thất Sơn Thần Quyền chỉ còn là ký ức của những võ sư miệt đồng bằng sông Cửu Long. Dù rất ít người chứng minh được sự mầu nhiệm của môn phái “võ bùa” này nhưng xuất xứ của Thất Sơn Thần Quyền gắn liền với một trang sử hào hùng, bất khuất của dân tộc Việt. Đó là điều cần ghi nhận.

Người Đồng Môn nói...
Những người tu hành trên núi, có đạo hạnh, nhập thế hành đạo giúp đời, được nhân dân xưng tụng là đạo sĩ. Ngày xưa, có nhiều vị náu mình chốn thâm sơn cùng cốc, tịnh tâm chiêm nghiệm thế sự, tìm mưu kế chống giặc. Các vị ấy thường giỏi võ nghệ, biết nghề thuốc, thỉnh thoảng ra tay trừ bọn cướp, bọn cường hào ác bá, mãng xà, beo cọp…
Nổi tiếng khắp Tây Nam bộ đời Tự Đức có đạo sĩ Đoàn Minh Huyên, tức Phật Thầy Tây An. Ông là người sáng lập ra Phật Giáo Bửu Sơn Kỳ Hương. Đạo sĩ Đoàn Minh Huyên sinh năm 1807 ở làng Tòng Sơn, tỉnh Sa Ðéc (nay thuộc tỉnh Ðồng Tháp). Thời điểm ông truyền đạo là năm nông dân mất mùa đói kém, nhiều nơi có giặc cướp nổi dậy, bệnh dịch tràn lan, dân tình khổ sở. Ông vừa giảng đạo, vừa chữa bệnh bằng thuốc và nhiều người đã khỏi bệnh. Dân chúng tôn xưng ông là Phật Thầy. Đạo sĩ Đoàn Minh Huyên truyền đạt giáo lý “Tứ ân”: 1- Ân tổ tiên cha mẹ. 2- Ân đất nước. 3- Ân tam bảo. 4- Ân đồng bào, nhân loại.
Do tín đồ theo đạo ngày càng đông, nên triều đình Huế nghi đạo sĩ Đoàn Minh Huyên có âm mưu nổi loạn, đã sai Tổng đốc An Giang bắt giam ông. Sau đó ông được thả ra, nhưng bị quản thúc phải tu tại chùa Tây An ở núi Sam (Châu Ðốc) và viên tịch tại đây năm 1856. Các vị kế nghiệp của ông vừa hành đạo vừa tham gia chống Pháp như Quản cơ Trần Văn Thành (khởi nghĩa Láng Linh – Bảy Thưa), đạo sĩ Năm Thiếp (Ngô Lợi) người sáng lập đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa.
Đạo sĩ Ngô Lợi tổ chức cho đệ tử khẩn hoang vùng Thất Sơn. Ông đã lập ra 14 thôn ở vùng này. Ông bị bọn thực dân Pháp truy bắt gắt gao nhiều lần nhưng đều thoát khỏi, dân gian đồn đại ông có phép tàng hình, ẩn thân. Ông viên tịch năm 1890 tại núi Tượng.
Sau ngài Đoàn Minh Huyên, Ngô Lợi,… Thất Sơn còn có những đạo sĩ nổi tiếng như ông Bảy Do, Đơn Hùng Tín, Trương Minh Thành, Mười Hột, Sáu Phu, Đạo Dững... Các vị đạo sĩ gần đây thì có các ông Mười Thiệt, Đức Minh, Thiện Quang, Năm Sanh, Ba Sánh, Mười Thành, Thiện Tài, Thiện Huệ, Đạo sĩ Tư, Năm Đức... Nhưng hiện nay còn sống chỉ có mấy người là ông Ba Lưới (Núi Cấm), Thiện Huệ (núi Cấm), Bảy Dị (Núi Bạch Viên).
Thất Sơn ngày nay đã bớt hoang vu và trở thành một quần thể du lịch sinh thái với nhiều lễ hội hấp dẫn, đặc sắc. Đến Thất Sơn, muốn biết những chuyện kỳ bí của Bảy Núi, bạn hãy tìm đến các vị đạo sĩ hay chí ít cũng là con cháu của họ, để nghe những truyền thuyết và huyền thoại đã trở thành cổ tích của Thất Sơn.

Nặc danh nói...
Câu chuyện về môn võ bùa thường chứa đầy màu sắc huyền ảo, thần tiên, kỳ bí được lưu truyền trong dân gian. Những người luyện công phu theo phái Thất Sơn sẽ có một sức mạnh tiềm ẩn “một người địch nhiều người”, có một khả năng đặc biệt, hơn hẳn người thường. Nhưng tất cả chỉ là chuyện kể, nhiều câu chuyện về môn võ bí ẩn mang tính huyền thoại còn đang tranh luận. Chỉ có về Tình Cương tìm gặp ông Cư, ông Cương,… với tâm huyết tầm sư học đạo, với tất cả tấm lòng chân thành, may ra sự thật mới được hé mở đôi phần. Những người theo môn phái Thất Sơn đều sống một cuộc sống giản dị, không khoa trương, khoe khoang, họ rất ít tiết lộ cho người ngoài biết về môn mình học và có một điều lạ là họ không gia nhập bất kỳ tổ chức võ thuật nào.
Người Đồng Môn nói...
Thủ phủ của Thất Sơn Thần Quyền là ở Huế, do tông sư Nguyễn Văn Cảo nắm quyền chưởng môn. Sáng tổ Nguyễn Văn Cảo học thần quyền từ một vị cao tăng người Ấn Độ. Thầy Nguyễn Văn Cảo đã “khuất núi”, bây giờ bạn muốn học võ phái Thất Sơn Thần Quyền thì chịu khó lặn lội về Tình Cương, Cẩm Khê, Phú Thọ mà tìm thầy Cương hoặc thầy Cư. Tất nhiên, phải có đủ nhân duyên thì mới theo học được.
DaoHoc nói...
Xin chào những người anh em
có một số bạn bị hiểu nhầm về nguồn gốc của môn phái , bản thân mình không theo nhưng nghe qua từ "Thất Sơn" cũng đủ hiểu nơi nào của việt nam rồi. có vài anh em nói nhưng không hiểu "thất sơn " nằm ở đâu ? tại sao phải gọi là Thất Sơn thần quyền ? ........... người anh em đừng háo danh , rồi truyền đi những thông điệp sai , thế hệ sau sẽ hiểu sai ? quê Tình Cương có núi thất sơn ?
Nặc danh nói...
Daohoc k doc ki ah ? Ai noi o tinh cuong co nui that son dau , o do la nha ong cu ma , ai chang biet that son o an giang nhung hien gio nguoi truyen day co ong cu o phu tho , chang hieu gi ma cung sua
Nặc danh nói...
Chang hieu gi ma cung sua , vui long doc ki di nha , chang ai noi tinh cuong co nui that son ca , ban hoc den lop may vay ?
Người Đồng Môn nói...
Thầy Nguyễn Trần Cương, nhà ở xóm Chùa, làng Tình Cương (ngay sau Tổ Đình Long Khánh) tuy khá kín tiếng nhưng vẫn âm thầm thu nạp đệ tử huấn luyện “võ bùa” đấy. Thỉnh thoảng thầy Cương vẫn vào Huế, Sài Gòn, An Giang,… thọ giáo các cao thủ võ lâm để “học đạo”. Mấy chục năm tu luyện bây giờ thầy Cương chắc là cũng “ngon” lắm rồi.
binh nguyen tan thanh nói...
xin chào các bạn . Mình là 1 trong nhưng người cũng có học về môn thất sơn nhưng theo sư phụ mình nói thi khác những gì các bạn nói. Về môn này càng học thì càng thấy mình càng yếu kém . 3 tháng đấu thi thấy như giởn chơi , 1 năm sau thì thấy mình biết chút chút , 5 năm sau thấy rất tự tin , 10 năm nữa thấy rất tự hào , giờ 20 năm rồi thì thấy mình qúa yếu kém măc dù mỗi ngày đều tập . Mình không biết môn TS vào VN bao lâu nhưng từ thời ông mình học từ lúc 16 tuổi " ông mình sinh năm 1913 " dến nay theo ông minh và sư phụ nói đến đời mình la đời thứ 5 . và sau khi thầy tổ mình mất năm 2008 thì ấn trưởng môn do vợ thầy giử hiện thời ở tây ninh . vậy ai là đồng môn xin nhắn về địa chỉ binhtamnhuco@yahoo.com . xin cùng trao đổi và học hỏi ( nhằm rạng danh đạo tổ )
Nặc danh nói...
có rất nhiều dòng tstq có tstq tstq1 tstq2 nguồn gốc không phải chỉ mình gốc an giang mà triệu sơn thanh hóa cũng có . đó là tstq1 hay trong cong an còn gọi là nhất long thủy sơn quyền.quyền tổ là triệu sơn . còn có tstq 36 ông tề bên miên . những dòng võ bùa này gọi chung là tstq còn câu chú mới biết là dòng nào.

Thứ Ba, 8 tháng 7, 2014

https://www.youtube.com/watch?v=vuBAgzBYc-E

Bài Thuyết Minh Tuyến Tour Tp.HCM - Tây Ninh - Củ Chi

  1. Bài Thuyết Minh Tuyến Tour Tp.HCM - Tây Ninh - Củ Chi

     
    - Bài này coppy được đâu đó không nhớ!!! Có nhiều nội dung hay, có vẻ hơi dài dòng và dàng trãi, có nhiều nội dung chưa tra khảo lại kịp... nhưng post lên để các thành viên tham khảo và sửa đổi hoặc coppy về làm tài liệu cho riêng mình nhằm phục vụ cho những chuyên thực hiện tour du lịch cho khách!!!
    - Chổ nào chưa đúng các thành viên cứ gửi góp ý ở dưới, Admin sẽ chỉnh sửa bổ sung sau!!!
    - Hảy đóng góp cho diễn đàn ngày càng thiết thực nhé!!!

    Admin


    BÀI THUYẾT Tp HCM - MINH CỦ CHI - TÂY NINH
    08/11/2011


    Thành phố Hồ Chí Minh là vùng đất mới, tính từ khi địa danh Sài Gòn được ghi vào sổ sách từ năm 1698 thì đến nay TP.Hồ Chí Minh đã thành lập được hơn 300 năm. Trước đây, TP.Hồ Chí Minh chỉ là một thị trấn nhỏ, người Khmer chiếm đa số. Cạnh đó còn có những người Việt đầu tiên từ các tỉnh miền Trung vào đây sinh sống. Đây là nơi buôn bán và trao đổi của nhân dân trong vùng, chính vì thế vào năm 1623 Chúa Nguyễn đã được sự đồng ý của Vua Chân Lạp đã lập ở đây một trạm thu thuế buôn bán. Dần dần dân thị trấn này đông thêm với cư dân của người Việt vào Nam.

    Năm 1679, nơi đây đã là nơi cư trú đóng đô của Quan Tổng Tham Mưu lực lượng của Chúa Nguyễn ở Miền Nam. Cũng trong năm này, khoảng 3000 quân sĩ Trung Quốc và gia đình trung thành với nhà Minh không chịu sự cai trị của nhà Thanh đã xin là dân Việt, được Chúa đưa vào sinh sống và một bộ phận người Hoa đã đến sinh sống ở Sài Gòn.

    Vào đầu năm Mậu Dần (1689), Thống Suất Nguyễn Hữu Cảnh theo lệnh chúa Nguyễn vào Kinh Lý vùng đất phía Nam. Ông đã thành lập Phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai làm Huyện Phước Long dựng Dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng Dinh Phiên Trấn. Sài Gòn lúc bấy giờ đã biến thành một thị trấn có 1 vạn dân và nhờ có vị trí thuận lợi nên vai trò kinh tế, chính trị của Sài Gòn ngày càng phát triển.

    Đến năm 1772, Nguyễn Cửu Đàm cho đắp các luỹ đất (gọi là Cô Luỹ hay còn gọi là Bán Bích Cô Luỹ). Từ chùa Cây Mai vòng qua Tân Định đến cầu Cao Miên ( Cầu Bông ngày nay) bọc qua khu chợ búa, dân cư, và khu quân sự, hành chánh. Sài Gòn đã trở thành “Thành Phố” với đầy đủ ý nghĩa của từ này “Thành để bảo vệ” và “Phố chợ buôn bán”.
    Từ cuôi thập niên 1770 cho đến hết thập niên 1780, sài Gòn có nhiều biến động cho cuộc tranh chấp giữa Chúa Nguyễn_Tây Nguyên và Tây Sơn_Nguyễn Anh. Bốn lần Tây Sơn vào đã đánh đuổi lực lượng Chúa Nguyễn và đã làm chủ Sài Gòn. Một sự kiện quan trong ảnh hưởng đến sự phát triển thương mại Sài Gòn là năm 1778, nhómngười Hoa buôn bán ở Cù Lao Phố do quân Tây Sơn đến đánh họ đã kéo về cư trú ở Sài Gòn và lập nên phố chợ buôn bán tấp nập tức Chợ Lớn ngày nay.

    Từ năm 1879, Nguyễn Anh (sau này lên ngôi lấy Hiệu là Gia Long) làm chủ Sài Gòn và Nam Bộ. Sài Gòn trở thành trung tâm hành chính khu vực nguyễn Anh kiểm soát. Năm 1790, Thành Bát Quái ra đời, đó là một thành luỹ vào loại lớn nhất ở Miền Nam. Thành có 03 lớp, lớp trong cùng là một trường thành xây bằng đá ong, cao hơn 6m rông khoảng 75.5m, bên ngoài là hồ nước rộng. Ngoài cùng là luỹ đất. Thành có 08 cửa ra vào : Càn, Khảm, Cấn , Chấn,Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Trông vào bản đồ giống như 01 con qui nên được gọi là “Thành Qui”. Trong thành là Hoàng Cung và các cơ quan trọng yếu.Sài Gòn là 01 trung tâm giao dịch trong cả nước, là 01 trung tâm văn hoá của Nam Bộ. Mỗi 03 năm, thi Hương được tổ chức ở trường thi Gia Đinh ( đặt ở Sài Gòn) để lấy cử nhân. Dân số Sài Gòn vào năm 1819 là khoảng 60.000 người. Trong thời gian này, một số thương gia Tây Phương đã ghé Sài Gòn như John White, sĩ quan Hoa Kì, Grawfurd, Finlayson , phái bộ của Anh (1882 ).

    Năm 1833, sau sự nổi loạn chống triều đình của Lê Văn Khôi _ con nuôi của Lê Văn Duyệt, vua Minh Mang đã cho phá Thành Qui, và cho xây lại thành mới nhỏ hơn goi la “Thành Phụng” , cao 4,7m , có hào bao quanh rộng 52m. Năm 1832, Gia Định thành bị bãi bỏ , toàn bộ Nam Bộ được chia thành 6 tỉnh trự c thuộc triều đình Huế . Sài Gòn là thủ đô của tỉnh Gia Định. Tuy nhiên, đây là trung tâm quân sự và nhất là trung tâm kinh tế của Nam Bộ. Năm 1859, thự dân Pháp đánh chiếm Nam Bộ, thành Gia Định thất thủ . Chúng đã đánh phá dinh thự, kho tàng bên trong thành và phố xá thương mại, nhà cửa……… “ Bến Nghé của tiền tan bọt nước, Đồng Nai tranh ngói nhuộm màu mây”. Từ năm 1862 , một phương án qui hoạch thành phố với 500.000 dân được phê duyệt. Thống đốc quân sự người Pháp là Bonard chia tỉnh Gia Định thành 03 phủ, mỗi phủ có 03 huyện . Dưới huyện có tổng, dưới tổng có xã. Năm 1864, Chợ Lớn được tách ra khỏi Sài Gòn . Vì đây là thành phố người Hoa đang trên đà thịnh vượng.

    Từ đây, dáng dấp của một đô thị theo kiểu phương Tây thế kỉ 19 đã dần dần hình thành, đã xuất hiện những đường lớn có ngã tư, ngã năm, ngã bảy. Nhà nhiều tầng bằng gạch, xi măng cốt thép, quãng trường, bến cảng, công viên…… lần lượt ra đời . Do vị trí địa lí và những yếu tố đất đai, khí hậu thuận lợi, vùng đất này đã sớm trở thành nơi hội tụ của các thương nhân bốn bể, năm châu. Cảng Sài Gòn đã ra đời vào năm 1962, các tàu buôn của người phương Tây và các nước lân cận đã tấp nập cập cảng Sài Gòn và các địa danh : Cầu Ông Lãnh, Chợ Cầu Kho, Chợ Rẫy, Chợ Bến Thành, Chợ Sài Gòn…… đã trở nên quen thuộc và đã biến Sài Gòn thành “ Hòn Ngọc Viễn Đông” của vùng Đông Nam Á. Năm 1931, 02 thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn được sát nhập làm 01 và được chia ra làm 05 quận. Trong cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp ( 1945-1954 ) và đế quốc Mỹ (1960-1975 ). Năm 1955, thành phố Sài Gòn _ Chợ Lớn được gọi la “Đô thành Sài Gòn”. Năm 1970, vùng đất Thủ Thiêm được sát nhập vào Sài Gòn , lúc này thành phố được chia làm 11 quận. Năm 1976, Quốc Hội khoá 6 đã chính thức đặt tên choa2 “ Thành Phố Hồ Chí Minh” bao gồm cả Sài Gòn, tỉnh Gia Định cũa và 01 số vùng lân cận. Thành phố Hồ Chí Minh trong địa giới hôm nay rộng hơn 2093,7 km2; Dân số 5.554. 850 người (năm 2003), Là Thành Phố lớn và đông dân nhất của đất nước, có năng lực lớn về sản xuất kinh doanh và là một trong những thành phố đang phát phát triển khá sầm uất của khu vực Đông Nam Á. Gồm 19 quận và 5 huyện:

    Nội thành có 15 quận: Quận 1, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10, 11, Phú Nhuận, Gò Vấp, Bình Thạnh, Tân Bình, Tân Phú, Bình Tân.
    Ngoại thành có 4 quận: quận 2, 9, 12, Thủ Đức
    5 huyện : Nhà Bè, Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh, Cần Giờ.

    Thành Phố Hồ Chí Minh là 01 địa danh lich sử, nơi mở đầu cho cuộc kháng chiến anh dũng chống quân xâm lược Pháp và là nơi kết thúc thắng lợi quá trình giành độc lập dân tộc Việt Nam với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử ngày 30-4-1975.

    2. Đặc điểm dân cư, dân tộc thành phố

    Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm Sài Gòn, Chợ Lớn và tỉnh Gia Định trước đây. Thành phố ở vị trí chiếm lược , có đường giao thông thuỷ bộ quan trọng, có bến cảng giao lưu được với Đông Nam Á và Thế Giới nên từ rất sớm dân cư tập trung đông nhất. Qua 02 cuộc chiến tranh, dân số đã tăng 01 cách đột biến. Năm 1945, dân số 450.000 dân , cho đến năm 1975 : 3.900.000 dân , bởi những vùng nông thôn bị tàn phá và bởi chính sách đô thị hoá cưõng bức của chính quyền Sài Gòn . Do vị trí chiếm lược địa bàn, thành phố Hồ Chí Minh là nơi hội tụ của nhièu luồng dân cư, dân tộc từ Bắc Bộ, Trung Bộ, và Nam Bộ đến dịnh cư sinh sống trong nhiều thời điểm khác nhau. Ngoài ra, dưới thời Mỹ - Ngụy còn có 01 số binh lính, công nhân viên chức nước ngoài như Mỹ, Pháp , Canada, Úc , Đài Loan…đến Sài Gòn .Do đó có rất nhiều thành phần khác nhau về địa phương , dân tộc, tôn giáo...Trong các thành phần dân cư ở Sài Gòn_ Gia Định , người Việt chiếm tuyệt đối đa số ( năm 1960 người Việt có 1423500 người trên tồng số 1800000 người ).

    Người Việt có gốc từ Bắc di cư vào khoảng 33.000 người (1945) cư trú ở vùng Sài Gòn_ Gia Định , trong đó 75 % là người Công Giáo. Di cư từ các vùng Bắc Ninh, Bùi Chu, Phát Diệm, Hải Phòng, Thái Bình.… ,số người tập trung đông nhất ở vành đai Sài Gòn như Tân Bình, Gò Vấp, Phú Nhuận, Bình Thạnh… người Việt gốc miền Trung di cư vào Sài Gòn năm 1959, 1960 . Ngoài gốc Quảng Nam tập trung ở khu Bảy Hiền, người Bình Định, Thừa Thiên và các tỉnh khác tập trung ở xóm lao động vùng Cô Giang, Khánh Hội, Bàn Cờ...người Việt gốc tỉnh Nam Bộ như Tây Ninh , Long An, Long Xuyên ( Bạc Liêu)… Qua những biến động thời cuộc đã lên thành phố để làm ăn sinh sống. Bên cạnh đó, người Hoa tập trung sống đông nhất ở thành phố chiếm khoảng 15% dân số thành phố, chủ yếu ở các quận 5, quận 11. Có mặt ở miền Nam Việt Nam vào cuối thế kỉ 17. Họ là những người dân nghèo khổ, binh lính và 01 số quan lại phong kiến rời bỏ quê hương vượt biển để tìm đất mưu sinh . Họ đã có nhiều đóng góp tích cực to lớn và có 01 vị trí kinh tế_ xã hội quan trọng của thành phố. Ngoài ra còn có người khmer, người Chăm, các dân tộc ít người như Tày, Nùng,Mường, Thái, Mèo , Êđê, Bana, Stiêng…

    Edit / Delete
  2.  
    3. Hệ thống sông ngòi ở thành phố:

    Sông Sài Gòn dài 106km, phát nguyên từ cao nguyên Hớn Qủang, chảy qua địa phận Tây Ninh, Sông Bé rồi vào thành phố Hồ Chí Minh.

    Sông Đồng Nai có chiều dài 586 km, là sông trải rọn trong lãnh thổ Việt Nam với chiều dài nhất. Sông bắt nguồn từ công viên Langbian(Lâm Viên) ở độ cao 1500m và đổ ra biển tại cửa Lòng Tàu (Cần Giờ). Sông Đồng Nai nổi tiếng với nguồn nước ngọt, cung cấp cho các hoạt động nông nghiệp và cho Tp.HCM (cung cấp trên 1triệu m3 nước 1ngày đêm với 3 nguồn: sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, nước ngầm). Sông Đồng Nai có thêm một phụ lưu về phía tả ngạn là sông Đa Nhim, sông La Ngà. Trong đó sông Sài Gòn là phần hạ lưu con sông Mêkông. Trong quá khứ thời điểm cách nay ít nhất 10.000năm, khi mà bề mặt đông nam bộ được nâng lên, làm dòng sông Mêkông chuyển dòng xuôi về phía Nam.

    4. Hệ thống giao thông:

    Về Hàng Không: sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất. Mật độ chuyến bay đứng dầu cả nước. Nhưng quy mô thua sân bay Nội Bài.
    Về Đường Thủy: cảng sài gòn có hệ thống đón nhận những tàu biển du lịch lớn, có thể nối khách bằng đường thủy khá lớn.

    Về Đường Sắt: tuyến đường sắt xuyên việt hiện nay từ thành phố Hồ Chí Minh-Hà Nội đi bằng tuyến đường sắt Thống Nhất. Tuyến đường sắt đầu tiên do pháp xây dựng vào cuối thế kỷ 19 tuyến đường sắt rất kém phát trển vì người dân không có thối quen đi xe lửa.

    Về đường bộ:

    Quốc lộ 1A đi xuyên thành phố Hồ Chí Minh
    Quốc lộ 51 đi Vũng Tàu
    Quốc lộ 22 đi Tây Ninh
    Quốc lộ 1 đi Biên Hòa
    Quốc lộ 13 đi Bình Dương
    Quốc lộ 50 đi gò công
    Từ Thành Phố Hồ Chí Minh Đi Ngã 3 Dầu Giây
    Giao lộ quốc lộ 20 đi Đà Lạt-Lâm Đồng
    Quốc lộ 1 đi Hànội

    Tuyến đường Tp.Hồ Chí Minh - Củ Chi: 30 km

    Tuyến đường Tp. Hồ Chí Minh – Tây Ninh: (99km - QL22)

    Đường Phan Đăng Lưu: Phan Đăng Lưu là một trong những bí thư cốt cán của Đảng Cộng sản Việt Nam, là một trong những người lãnh đạo TW đảng có vai trò quan trọng trong việc xay dựng và phát triển Đảng Cộng Sản Việt Nam. Năm 1941 ông bị thực dân Pháp tử hình tại ngã ba Giồng - thuộc xã Xuân Thới Thượng huyện Hóc Môn

    -Đường Hoàng Văn Thụ: Đoạn đường này từ ngã 4 Phú Nhuận đến ngã 4 Bảy Hiền nhưng thuộc Phú Nhuận là từ ngã 4 Phú Nhuận đến chỗ quân khu 7. Con đường này từ thời Pháp có tên là Lò Đúc, sau đổi là số 1 kép, lại đổi là Liên tỉnh lộ số 22. Từ năm 1955 chính quyền Gia Định đặt tên là Võ Tánh. Ngày 14-08-1975 chính phủ cách mạng lâm thời đổi tên thành Hoàng Văn Thụ .Ông Hoàng Văn Thụ (1906-1944) người dân tộc Tày, quê làng Nhân Lý (nay là xã Văn Thụ) huy6ẹn Văn Uyên tỉnh Lang Sơn Ong là 1 cán bộ cách mạng, thoát li hoạt động cách mạng khi còn rất trẻ là một torng những cán bộ nòng cốt của Đảng Cộng Sản. Năm 1943 trên đường đi họp ở Hà Nội, ông bị bắt và năm sau bị bắn ở Tương Mai (Hà Nội).

    -Sân Vận Động quân khu 7: đây là nơi diễn ra các hoạt động thi đấu thể dục thể thao. Ngoài ra còn tổ chức những hoạt động văn hóa nghệ thuật giao lưu lớn.

    2.QUẬN TÂN BÌNH

    - Bùng Binh Lăng Cha Cả: có tên như vậy bởi vì đây là mộ của cha Bá Đa Lộc (tên PIGREAU DEBEHAINE). Bá Đa Lộc là một vị gíam mục, là vi quân sư của vua Gia Long và cũng là người có ơn với vua Gia Long trong việc thương lượng với người Pháp để có vũ khí đánh nhua với quân Tây Sơn của Nguyễn Huệ.

    - Đường Cộng Hoà: Sau lưng những dãy nhà lớn có hai bầu tròn như hai cây nấm tròn lên, hai bầu tròn này được goị là An Phi. Trong suốt thời gian My cai trị khu vực này là trại lính Hoàng Hoa Thám (nơi đóng quân). Ngày xưa sân bay Tân Sơn Nhất kéo dài tời tận đây và vành đai xung quanh là nơi lực lượng lính Cộng Hoà chiếm đóng. Còn An Phi tức là an ninh cho phi hành đoàn, an ninh cho những thông tin của người Mỹ. Sau ngày 20-07-1954 Pháp ký hiệp định Gieneve, và Mỹ đã chính thức bước vào chiến trường Việt Nam từ lúc này và từ thời điểm này An Phi rất quan trọng đối với Mỹ . Và lúc bấy giờ Sài Gòn được mệnh danh là " Lầu Năm Góc " của Đông Nam Á chính là nhờ hai cái An Phi này . Đặc biệt là vào năm 1966-1967 có 48 nhà khoa học hàng đầu của Mỹ họp với bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Mỹ Macnamara nghiên cứu và chế ra một số thông tin liên lạc mà chỉ có thể liên lạc từ khu vực này đến khu Nhà Trắng tức Lầu Năm Góc của Mỹ . Những thông tin giải mã từ hai An Phi này được liên lạc trực tiếp từ bên đây sang bên kia mà không có một tín hiệu nào có thể bắt và nhận tín hiệu này được . Chính vì vậy mà hai An Phi này rất quan trọng cho đến mãi sau này ,sau ngày giải phóng 1975 do biết giải mã và cũng có nhu cầu sử dụng nên chúng ta không sử dụng đến hai An Phi này . Đường Cộng Hoà là một đường quan trọng dẫn về một số tỉnh Miền Đông Nam Bộ , con đường này đang được nâng cấp mở rộng để thận tiện cho việc lưu thông.

    - Đường Trường Chinh: Thời gian trước đường này thuộc đường Cách Mạng Tháng Tám nối dài sau được đổi lại là Trường Chinh vào năm 2001 . Con đường này bắt đầu từ Ngã tư Bảy Hiền và kết thúc tại ngã tư An Sương . Trường Chinh là một trong những Tổng Bí Thư đầu tiên cuả Việt Nam dân chủ cộng hoà, ông đã cống hiến cuộc đời mình cho cách mạng va quê hương.

    Bên tay trái là đài tưởng niệm quận Tân Bình, bên trong có một bùng binh nhỏ có lá cờ đỏ sao vàng và bên phải là sân bay Tân Sơn Nhất.

    -Sân Bay Tân Sơn Nhất: Tân Sơn Nhất là một làng thuộc quận Phú Nhuận ngày xưa( Phú Nhuận gồm 03 làng xã: Tân Sơn Nhất , Tân Sơn Nhì và Tân Sơn Hoà). Sân bay nằm trong làng Tân Sơn Nhất nên lấy tên là Sân bay Tân Sơn Nhất. Đây là một trong những Sân Bay lớn của Việt Nam. Với diện tích 1400 ha do quân đội Pháp xây dựng vào năm 1930. Năm 1933 thực hiện chuyến bay quốc tế đầu tiên Sài Gòn_Paris, và lúc sân bay chỉ có một đường băng bằng đất và đá đỏ với chiều dài là 1500m, sau đó được tu bổ dần . Trong thế chiến thứ có thêm một đường băng dài 1800m cũng bằng đất và đá đỏ . Đến năm 1962-1967 quân đội Mỹ đã cho xây dựng đừơng băng dài 3000m bằng bê-tông . Hiện nay sân bay này đã được xây dựng một đường băng mới dài 3500m. Trong tương lai sân bay này sẽ chuyển về Long Thành và nơi đây chỉ là sân bay đón tiếp các vị quan khách cao cấp từ nước ngoài đến Việt Nam. Cũng như Cảng Sài Gòn thì sân bay Tân Sơn Nhất đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, nâng thành phố lên vị trí cầu nối, nơi hội tụ và giao lưu quốc tế . Các đường bay quốc tế trực tiếp đến sân bay Tân Sơn Nhất hiện nay: Bangkok, Dubai, Hongkong, KualaLumpur,Sydney,Seoul, Singapore, Paris, Berlin, Mỹ……. Nơi đây còn ghi lại những chiến công cuả quân giải phóng trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy muà xuân Mậu Thân (1968) và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 1975

    - Khu công nghiệp vành đai Sài Gòn: Được xây dựng trước 1975 ( như nhà máy bột ngột Thiên Huơng , nhà máy dầu Tường An , dệt Thắng Lợi , dệt Thành Công). Nhà máy dệt Thắng Lợi với tên cũ là Vinatexco được hình htành từ những năm 60 và do bà Trần Lệ Xuân vợ ông cố vấn Ngô Đình Nhu( Ngô Đình Nhu là em trai cuả tổng thống Ngô Đình Diệm) nơi đây đã diễn ra cuộc biểu tình cuả công nhân chống chính quyền rất mạnh. Ngoài ra công ty dệt Thắng Lợi này còn nổi tiếng do bà Trần Lệ Xuân đã dùng vải nơi đây cho thiết kế vải cách điệu với "Cổ thuyền" xẻ xuống ngực còn gọi là áo dài Trần Lệ Xuân.Công ty dệt Thành Công thì có mặt hàng xuất khẩu ra nước ngoài với nhãn hiệu áo thun cá sấu

    Cầu Tham Lương: Đây là ranh giới của quận Tân Bình và quận 12 cầu còn có tên gọi là cầu Tham Cấn bắt qua kênh Tham Lương trước thời Nguyễn. Tham Lương là con kênh đào ngắn hẹp. Đến năm 1771 kênh được đào rộng ra 10m sâu 3m dài 8Km. Năm 1782 diễn ra trận đánh giữa quân Tây Sơn và Nguyễn Anh. Đến năm 1945 Pháp cho xây dựng nhiều hệ thống đồn bót để kiểm soát. Tháng 12-1946 xảy ra trận đánh lớn giữa Việt Minh và Pháp diễn ra trong suốt 3 ngày và nơi đây có 1 nhạc sĩ đã sáng tác ra bài hát "Mặt trận Tham Lương"

    3.QUẬN 12:

    - Quận 12 được cắt ra từ huyện Hóc Môn theo quyết định quy hoạch ngày 01-07-1997. Với diện tích khoản 113,7km2 quận 12 là 1 trong những quận có diện tích lớn của TP.HCM.

    - Ngã tư Bà Điểm: (bên trái) đây là ngã 3 đi vào khu Bà Điểm. Trong thới kì chúa Nguyễn đẩy mạnh phong trào di dân vào Nam để khai phá vùng đất này thì một số cư dân ở Quãng Bình vào đây sinh sống trong đó có bà Nguyễn Thị Điểm đã theo ông Nguyễn Hữu Cảnh vào đây lập nghiệp với quán nước ven đuờng và lâu dần thi gọi tên bà thành điạ danh. Nơi đây có nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đặc biệt là nơi phát động phong trào Nam Kì Khởi Nghĩa vào tháng 11 năm 1940 lan rộng ra tới Mỹ Tho, Cần Thơ. Hiện nay khu Bà Điểm này thuộc xã Tân Thới Nhất huyện Hóc Môn.

    - Mười tám thôn vườn trầu: Vào thời Pháp tại địa phương này cuộc khỏi nghĩa cuả Phan Công Hớn (quê tại Bà Điểm) và Nguyễn Văn Hóa (quê Long An)lãnh đạo giết chết tên đô đốc Trần Tử Ca. Sau khi cuộc khởi nghiã thất bại Nguyễn Văn Hoá bị ch1m đầu tại Hóc Môn và để đàn áp cuộc khởi nghiã này Pháp đã truy lùng những người khởi nghĩa, trong lúc truy lùng đã tìm ra Mười tám làng còn gọi là "Thập Bát Phù viên" và nơi đây trồng nhiều trầu (trầu lá để ăn)nên gọi là 18 thôn vườn trầu.

    - Ngã 4 An Sương: dây là ranh giới giữa quận 12 và huyện Hóc Môn, tên An Sương là do ngày xưa nằm trong làng An Sương. An Sương là giao điểm của quốc lộ 22 và xa lộ Đại Hàn. Từ Ngã 4 An Sương theo quốc lộ 22 thì đi 58km ta đến cưả khẩu Mộc Bài qua Campuchia

    - Xa lộ Đại Hàn: Có tên gọi này là vào sau năm 1968 Mỹ đã bỏ tiền ra xây dựng nhưng giao công trình cho Hàn Quốc xây dựng và dân ta gọi là xa lộ Đại Hàn mang tên nước đã thi công con đường này. Xa lộ này dài 28km, mặt cán nhựa rộng 7m, bắt đầu từ ngã 3 An Lạc (huyện Bình Chánh) và kết thúc tại trạm Hai (Thủ Đức)

    4. HUYỆN HÓC MÔN:

    Trườc đây vùng này có nhiều hang hốc và mọc nhiều cây môn nước nên được gọi là Hóc Môn (do hốc đọc trai thành Hóc). Diện tích của huyệ Hóc Môn 109,5km2, cách trung tâm TP.HCm khoảng 15km Hóc Môn là nơi sinh của nhà tri thúc Nguyễn An Ninh và nơi đây cũng chính là địa bàn hoạt động cách mạng của ông. Tại Bà Điểm đã diễn ra hội nghị TW Đảng lần thứ IV (1937), V (1938), và lần VI (1939). Nơi đây cũng cưu mang nhiều chiến sĩ cách mạng như Nguyễn Thị Minh Khai,Võ Văn Tần, Hà Huy Tập, Lê Duẫn, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Văn Linh,…….

    - Trung tân huấn luyện Quang Trung: là 1 trường huấn luyện bộ binh lớn nhất cuả chính quyền Sài Gòn trườc năm 1975. Vùng này mang tên Quang Trung do nơi đây trước có đền thờ vua Quang Trung nên lấy tên đặt cho điạ danh
    -Ap Bàu Nai - xã Đông Hưng Thịnh: Trước đây là khu vực có nhiều ao nước nhỏ, vào ban đêm nai thường ra đây uống nước nên có địa danh là Bàu Nai

    - Ngã 3 Củ Cải: Do 1 nhóm cư dân đạo thiên Chúa giáo thuộc vùng Bình Chu 73 Nam Định di cư đến đây sinh sống và ghép 2 địa danh Bùi Chu - Hóc Môn thành Bùi Môn. Nơi đây nổi tiếng với xóm đạo mang tên Tha La.. và tên này đã đi vào âm nhạc với bài hát "Tha La xóm đạo" dù bạn chưa tới đây nhưng đã từng có lần nghe bài hát này"đây Tha La, đây x1m đạo tiêu điều …. đây" và bài hát này đã nói lên việc chiến tranh đã làm cho xóm làng hoang tàn … rơi vào cảnh đau thương mất mát

    - Ngã 3 vào bệnh viện Hóc Môn: (hay còn goi là nhà thương giếng nước) từ nơi đây chúng ta đi vào trong là tới ngã 4 giếng nước nơi đây có giếng nước cung cấp nước cho dân cư nơi đây. Và ngã 4 giếng nước này vào năm 1941 thực dân Pháp đã tử hình các đồng chí lãnh đạo TW đảng như Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Nguyễn ThiMinh Khai …. Và còn lưu lại những cây cột mà những chiến sĩ này bị hành án

    - Ngã 4 thị trấn Hóc Môn: Rẽ phải vào Uy Ban Nhân Dân huyện Hóc Môn (trước đây là dinh quận Hóc Môn) nơi xảy ra cuộc tấn công của quân khởi nghĩa Phan Công Hớn lãnh đạo vào đêm 22 rạng ngày 23-11-1940 quần chúng nhân dân tấn công vào dinh thư này và giết chết tên đốc phủ Trần Tử Ca mở đầu cho cuộc khởi nghĩa lan rộng Nam Kì KhởiNghĩa
    - Rẽ trái vào ngã Ba Giồng - Xã Xuân Thới Thuận: nơi đây thực dân Pháp đã tuyên án tử hình các đồng chí lãnh đạo TW Đảng Cộng Sản năm 1941: Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu.

    - Cầu An Hạ (cầu Bông): Ranh giới của huyện Hóc Môn và Củ Chi. Lúc trước cầu này mang tên là cầu Bông sau đổi thành cầu An Hạ. Cầu Bông trước đây là khu vực trồng nhiều bông và bán nhiều hoa nên cầu mang tên là Hoa, nhưng khi vua Minh Mạng lấy người vợ tên là Hồ Thị Hoa quê ở Thủ Đức nên cầu được đổi thành cầu Bông vì tên Hoa là kị húy. Và về sau gọi là cầu An Hạ vì để không trùng hợp với cầu Bông khác. Tên An Hạ này này là do gần với nông trường thanh niên xung phong mang tên An Hạ nên lấy để đặt cho cầu này luôn. Năm 1948 tại đây đã xảy ra trận đánh ác liệt giữa chi đội 12 và quân đội Pháp.

    - Đường dây 500Kv: Tải điện tứ nhà máy thủy điện Hoà Bình vào đây và truyền tải cho các tỉnh lận cận khác

  3. Huyện củ chi

     
    5. HUYỆN CỦ CHI

    Trước đây vùng này có nhiều cây Mã Tiền nhưng vì người dân không biết nên gọi là Củ Chi tên khoa học là Strychonos nuxromica dùng để chưã bệnh phong xù. Huyện Củ Chi có diện tích khaỏng 428,5km2 cách trung tâm TP.HCM khoản 35km. Đây là vùng đất chịu nhiều đau thương mất mát trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Nơi đây chịu biết bao nhiêu tấn bom dội lên và qua 2 cuộc kháng chiến này nhân dân Củ Chi cho mọi người trên thế giới biết rằng thế nào là huyền thoại anh hùng với những chiến tích, kỳ công trong chiến đấu và nơi đây có một hệ thống địa đạo Củ Chi chằng chịt, từ địa đạo Củ Chi đã được phong danh hiệu là "Củ Chi đất thép thành đồng". Huyện Củ Chi trước năm 1975 thuộc tỉnh Hậu Nghĩa sau đó tách ra:Một phần là Đức Hòa Đức Huệ thuộc Long An, một phần Bên Cát thuộc tỉnh Bình Dương, và còn Củ Chi thì thuộc TP.HCM.

    - Nông trường An Hạ: Do lực lượng thanh niên xung phong Tp.HCM thành lập tạo ra những vành đai xanh cho Thành Phố

    - Công trình Kênh Đông: Là công trình thủy lợi dẫn nước từ lòng hồ Dầu Tiếng để tưới tiêu. Công trình Kênh Đông này do lực lượng thanh niên xung phong TP.HCM thi công tưởng niệm 10 năm ngày giải phóng Thành Phố (ngày 30-04-1975 đến 30-04-1985). Kênh này có đặc điểm là mặt nước cao hơn mặt ruộng do nước ở lòng hồ Dầu Tiếng ở trên cao đổ xuống và được ngăn đập tạo thành

    - Hồ Dầu Tiếng: Cách thị xã Tây Ninh 20km Hồ có diện tích 27.000ha, có sức chứa 1.5tỷ m3 nước tưới cho đồng ruộng của tỉnh và các tỉnh lận cận. Hồ Dầu Tiếng là công trình thủy lợi lớn nhất nước ta, hồ được ngăn bởi con sông lớn đó là sông Sài Gòn. Năm 1980 Uy Ban nhân dân tỉnh tây Ninh kết hợp với bộ thủy lợi tiến hành khảo sát ngăn sông Sài Gòn đắp đập Dầu Tiếng. Vì do điều kiện tưới tiêu để sản xuất và tăng năng suất cho tỉnh. Hồ Dầu Tiếng được khởi công xây dựng ngày 19-04-1981 và hoàn thành vào tháng 10-01-1985. Tổng kinh phí là 1000 tỉ đồng , hồ phục vụ tưới tiêu cho 172.000ha đất trồng.

    - Ngã 3 Việt Kiều: Vào năm 1979 do ở Campuchia thường xảy ra nhiều biến cố và xung đột nên ngưòi Việt Nam sinh sống tại Campuchia đều hồi hương và về an cư ở khu vực này nên mới có tên gọi là ngã 3 Việt Kiều. Việt Kiều ở đây tức là Việt Kiều Campuchia

    - Xã Tân Thông Hội:
    Nếu rẽ trái ta sẽ đi Long An (Đức Hòa - Đức Huệ) còn rẽ phải ra Đồng Dù - là 1 căn cứ của sư đoàn 25. Từ đây chúng ta có thể đến địa đạo Củ Chi. Hệ thống cầu vượt Củ Chi là 1 hệ thống cầu vượt mới được xây dựng .

    - Xã Tân An Hội: Là 1 xã trung tâm của huyện Củ Chi. Tên này gắn liền với Nguyễn Anh - một vì chúa Nguyễn - khi đặt chân đến đây thì đặt như thế vì cho nơi đây là an lành bình yên. Tại thị trân Củ Chi và ngã 3 Việt Kiều là tập trung đông nhất của huyện Cu Chi.

    - Ngã 3 Phước Hiệp: Rẽ phải chúng ta sẽ đi vào khu địa đạo Củ Chi đây là con đường thứ năm đi vào địa đạo. Để đi vào địa đạo chúng ta có 5 con đường để đi. Nhưng đây là con đường mà du khách thường đi nhất. Địa đạo cách TP.HCM 70km.

    - Xã Tân Phú Trung: Năm 1948 nhân dân nơi đây đã xây dựng nên những đia đạo đầu tiên nhưng mới chỉ là giao thông hào, sau đó cuộc chiến tranh càng quét mở rộng nên nhân dân ta đã tiến hành cho đào những đường hầm thông nhau và sống ở dưới đó. Và Thành ủy đã chọn Củ Chi là căn cứ chống Mỹ.

    - Địa Đạo Củ Chi: Là căn cứ của thành ủy Sài Gòn - Gia Định trong thời kì kháng chiến chống Mỹ từ năm 1964 đến 1975. Hệ thống địa đạo Củ Chi được đào từ năm 1964 với chiều dài tổng cộng khỏan 200km liên hoàn với các xã với nhau. Địa đạo Củ Chi có 3 tầng: tầng 1 cách mặt đất từ 1-3m và dùng để chiến đấu, tầng hai cách mặt đất 3-6m và dùng để sinh hoạt hàng ngày như nấu ăn ở học tập, tầng thứ ba cách mặt đất từ 6-10m dùng để tránh sự bắn phá của bom mìn mà Mỹ Ngụy thả xuống. Dưới địa đạo có đầy đủ các văn phòng, cơ quan làm việc như phòng họp phòng chiếuphim, phòng hội trường phòng giải phẩu, nhà bếp với loại bếp giấ khói, nhà ăn, giếng nước… Địa đạo Củ Chi đã trải qua nhiều cuộc càn ác liệt nhưng vẫn đứng vững và tiếp tục phát triển. Địa đạo Củ Chi gồm hai khu vực:Bến Dược:Địa danh này có tên như vầy là do lúc trước đây là nơi vượt sông Sài Gòn qua Bến Cát (thuộc tỉnh Bình Dương) của các chiến sĩ cách mạng để tránh sự truy bắt của giặt nhưng do người dân Nam Bộ phát âm không chuẩn nên đọc trại ra Bến Dược. Đây là khu căn cứ của thành uỷ Sài Gòn- Gia Định

    - Bến Đình: Điạ danh này được giải thích là trước đây do xây dựng Ap Đình, Địa đạo Bến Đình là khu căn cứ của huyện ủy huyện Củ Chi.

    - Công trình 1 thoáng Việt Nam: Hay còn gọi là" Đồng Bò Cạp là một nơi thu nhỏ các ngành nghề truyền thống của Việt Nam từ miền Bắc, miền Trung đến miền Nam.

    - Bia Suối Sâu: Ranh giới tự nhiên giưã Củ Chi - TP.HCM với huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh.Bia này đã ghi lại tội ác của Mỹ-Ngụy vào năm 1966 đã mở nhiều trận càng quét rất qui mô giết nhoều người dân vô tội tàn phá xóm làng mà khu vực này Mỹ cho là " Tam Gác Sắt" (chiến khu R)

    Ðịa đạo Củ Chi

    Vị trí: Ðịa đạo Củ Chi là một di tích lịch sử cách mạng nổi tiếng, thuộc xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi, cách trung tâm Tp. Hồ Chí Minh 70km về phía tây bắc.
    Ðặc điểm: Ðịa đạo quả là kỳ quan độc nhất vô nhị: dài 250km chạy ngoắt ngoéo trong lòng đất, được làm nên từ dụng cụ thô sơ là lưỡi cuốc và chiếc ki xúc đất.

    Ðường hầm sâu dưới đất từ 3 - 8m, chiều cao chỉ đủ cho một người đi lom khom. Căn hầm đầu tiên ở ngay bìa rừng có giếng ngầm cung cấp nguồn nước uống và sinh hoạt cho toàn khu vực địa đạo. Giếng sâu 15m, trong vắt. Hệ thống địa đạo gồm 3 tầng, từ đường "xương sống" toả ra vô số nhánh dài, nhánh ngắn ăn thông nhau, có nhánh trổ ra tận sông Sài Gòn. Tầng một cách mặt đất 3m, chống được đạn pháo và sức nặng của xe tăng, xe bọc thép. Tầng 2 cách mặt đất 5m, có thể chống được bom cỡ nhỏ. Còn tầng cuối cùng cách mặt đất 8-10m hết sức an toàn. Ðường lên xuống giữa các tầng hầm được bố trí bằng các nắp hầm bí mật. Bên trên nguỵ trang kín đáo, nhìn như những ụ mối đùn, dọc đường hầm có lỗ thông hơi. Liên hoàn với địa đạo có các hầm rộng để nghỉ ngơi, có nơi dự trữ vũ khí, lương thực, có giếng nước, có bếp Hoàng Cầm, có hầm chỉ huy, hầm giải phẫu... Còn có cả hầm lớn, mái lợp thoáng mát, nguỵ trang khéo léo để xem phim, văn nghệ.

    Hãy một lần chui vào địa đạo, ta sẽ thấy rõ chiều sâu thăm thẳm của lòng căm thù, ý chí bất khuất của "vùng đất thép" và sẽ hiểu vì sao một nước Việt Nam nhỏ bé lại chiến thắng một nước lớn và giàu có như Hoa Kỳ? Ta cũng sẽ hiểu vì sao Củ Chi - mảnh đất nghèo khó lại đương đầu ròng rã suốt 20 năm với một đội quân thiện chiến, vũ khí tối tân mà vẫn giành thắng lợi. Cũng từ địa đạo này, cuộc hành quân Crimp (cái bẫy) của Mỹ với 3.000 quân bộ, cuộc hành quân Sedarfall gồm 12.000 lính, có xe tăng, máy bay yểm trợ tối đa, nhằm biến Củ Chi thành "khu tự do hủy diệt" đã bị đập tan. Củ Chi thật xứng danh "đất thép thành đồng" qua 20 năm bền bỉ chiến đấu.

    Ðiều thú vị nữa khi về thăm mảnh đất anh hùng này là các hướng dẫn viên đều ăn mặc như hồi chiến tranh: nam mặc đồ giải phóng, mũ tai bèo; nữ mặc bà ba đen, quàng khăn rằn và đi dép lốp. Sự có mặt của họ bên trong những búi cây, ở mỗi khúc quanh khiến du khách có cảm giác đang được sống trong sự thật của Củ Chi thời đánh giặc. Cảm giác thời chiến rõ nét hơn khi đĩa sắn luộc, bát muối vừng được đưa mời khách du lịch. Những ly rượu bé xíu, trong vắt và nồng nàn được gọi đùa là nước mắt quê hương bên đĩa rau mốp muối chua, giòn và ngon đến lạ. Bạn đừng quên nếm thử món rau mốp. Rau mốp là lương thực chính của quân dân Củ Chi ngày trước, còn giờ đây đang là đặc sản.

    Địa đạo Củ Chi

    Di tích địa đạo Củ Chi ở xã Phú Mỹ Hưng nằm phía Bắc Củ Chi là một hệ thống gồm hầm, địa đạo, giao thông hào, ụ chiến đấu, chủ yếu tập trung ở ấp Phú Hiệp thuộc xã Phú Mỹ Hưng với diện tích gần 100 mẫu: Tây Bắc giáp sông Sài Gòn, Đông Bắc giáp ấp Phú Lợi, Tây Nam giáp ấp Lộc Thuận, Lộc Hưng (Trảng Bàng) và Đông Nam giáp ấp Phú Hòa. Chọn Phú Hiệp lập hệ thống địa đạo là bởi vùng đất cao, lòng đất lẫn đá sỏi rắn chắc, có thể chịu sức ép bom 500kg và xe cơ giới của địch. Đây là khu rừng chồi, tre và cao su lẫn lộn rất th
    ích hợp cho địa hình du kích chiến.

    Năm 1961, địa đạo ở xã Phú Mỹ Hưng chỉ là những đường hầm ngầm sâu trong lòng đất, kéo dài vài chục thước, đôi khi giao nhau, chồng chéo... cốt tránh địch hơn là đối phó. Năm 1962, khi cuộc chiến chống đế quốc Mỹ bước sang giai đoạn quyết liệt, đồng chí Võ Văn Kiệt, lúc này là bí thư Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chỉ thị thành lập Ban chỉ đạo xây căn cứ có tên gọi là căn cứ Phú Hiệp do đồng chí Mười Phước - chỉ huy trưởng, các đồng chí: Tư Đạt, Năm Long, Ba Lùn, Tư Hùng - ủy viên và đồng chí Tám Trương - trưởng văn phòng cùng một số chiến sĩ thuộc tiểu đoàn Vinh Quang.

    Công trình lấy ngày kỷ niệm thành lập Đảng (3 tháng 2) khởi công. Theo bản thiết kế, địa đạo được xây dựng dựa theo kinh nghiệm từ trước, bằng cách cứ khoảng 16m tạo một giếng, đường kính 0,6m, sâu 3m, khi giáp mí thì lấp miệng. Từ đáy giếng dùng cuốc chim khoét sâu tạo địa đạo có chiều ngang 50cm, cao 80cm. Địa đạo gồm các ngóc ngách theo thế vừa chiến đấu, vừa tiếp nối từ hầm này đến hầm khác thành một thế liên hoàn được tính toán hết sức khoa học. Bởi vậy có những đoạn cắt ngắn, có đoạn song song, đoạn giao nhau, đoạn trên đoạn dưới, vòng vèo, quanh co, kéo dài đến trên 100 cây số.

    Những nơi giao nhau hoặc sắp vào miệng hầm, địa đạo hẹp dần, có khi phải trườn hoặc chui vào miệng hầm. Những giao điểm đặc biệt của địa đạo có chốt an toàn. Chốt là một khúc gỗ, đầu nhọn dài hoặc khối mủ cao su đường kính 40cm có dây dài. Để bịt kín địa đạo chỉ cần kéo mạnh dây, nút thắt cao su, hoặc khúc gỗ sẽ bịt kín đường hẹp địa đạo. Chốt an toàn nhằm ngừa địch sử dụng hơi cay hoặc bơm nước độc xuống địa đạo.

    Miệng địa đạo là một trong những cấu trúc đặc biệt, rất tinh vi thường lẫn lộn trong bụi rậm, gò mối, kích thước vừa vặn một người chui vào 30cm x 40cm. Nắp hầm là mảnh gỗ dày 10cm, mặt khỏa cỏ tươi, chụp vừa miệng hầm. Những lỗ thông hơi được tạo theo đường xiên 45o, núp trong các bụi rậm khó phát hiện. Tại các miệng xuống địa đạo, thỉnh thoảng có bẫy chông, là mảnh ván bắc ngang, dưới đặt bàn chông. Kẻ lạ bước lên, lập tức rơi xuống bẫy.

    Địa đạo ở xã Phú Mỹ Hưng chia làm 3 khu: Khu trung tâm dành cho các cán bộ lãnh đạo cao cấp. Khu bên phải gồm hầm văn phòng và hầm hội họp. Khu bên trái nơi đóng quân của tiểu đoàn Vinh Quang (đội phòng vệ). Điểm nổi bật của khu địa đạo ở xã Phú Mỹ Hưng là các hầm âm trong lòng đất. Những căn hầm xây dựng cho văn phòng, y tế, hậu cần, cơ yếu, văn nghệ... cả bếp Hoàng Cầm (bếp ém khói) tập trung khu vực mạn Đông con suối Thai Thai gọi là vườn quít. Mỗi hầm cách nhau 50 đến 70m, có kích thước như một hình vuông từ 3m đến 3,5m. Địa đạo nối các hầm thường vòng vèo và qua một chốt bảo vệ.

    Hầm tại khu trung tâm được mô tả như là một trong những kỳ công của khu địa đạo Phú Mỹ Hưng. Tại đây có hầm làm việc của Chính ủy, Tư lệnh và Phó tư lệnh, các khu ủy và hầm họp. Mỗi hầm cách nhau khoảng 400 đến 500m, thông nhau qua địa đạo. Tất cả những hầm này đều xây dựng trong khu vực đất rắn pha đá sỏi, nằm sát mí vườn nhà của hai ông: Hai Bao và Tám Cắt. Trước tiên hầm hình thành như một hố sâu, ngang 2m, rộng 3,5m, sâu 3,5m (kể cả nóc hầm cách mặt đất 1,8m).

    Nóc hầm được làm bằng các đà bê tông thả ngang, sau đó lấp kín hoàn toàn bên trên. Trong hầm, hai bên vách có giàn cây chịu lực hình chữ A có thể mắc võng nằm. Một số hầm có trét xi-măng chống thấm. Miệng hầm nối địa đạo thường qua một chốt gác. Từ đây, địa đạo có ngã rẽ chia hai. Một địa đạo đặc biệt dẫn dài đến mé sông Sài Gòn và trổ lên trong bụi ô rô. Khi có mật hiệu, ghe bên kia sông sẽ sang rước khách đặc biệt vào căn cứ Thanh Tuyền (bên kia sông Sài Gòn thuộc Bình Dương).

    Các hầm trong khu trung tâm đều có dạng cấu trúc tương tự và đều có địa đạo riêng thông với địa đạo đặc biệt nhằm đối phó khi có tình huống nguy hiểm. Trong thời gian tạm lánh tại địa đạo Phú Mỹ Hưng, các đồng chí cán bộ lãnh đạo cấp cao thường lên khỏi địa đạo đến thăm, đàm đạo với người dân trong ấp cũng như gia đình ông Hai Bao và Tám Cắt. Khu bên trái tức khu bố phòng của tiểu đoàn Vinh Quang với số lượng hầm ít hơn, cấu trúc thông thường như hầm hành chánh, kích thước 3m x 3,5m. Một chiến tuyến vững chắc hình thành một vòng cung bảo vệ khu trung tâm là một hệ thống giao thông hào xen kẽ ụ chiến đấu.

    Giao thông hào sâu từ 1,2m đến 1,4m, ngang 0,5m, chạy vòng vèo theo địa hình và kỹ thuật chiến đấu, cắt quãng hoặc tiếp nối các ụ chiến đấu. Uụ chiến đấu sử dụng bắn máy bay gồm rãnh tròn đường kính 3m bao quanh mô đất cao quá đầu người, ở giữa. Xạ thủ dùng mô đất vừa đặt súng, vừa làm vật cản, chạy quanh mô đất núp bắn máy bay địch. Có ụ chiến đấu là hố sâu chứa từ 3 đến 5 người. Xạ thủ bố trí nhiều mặt chiến đấu. Trong khu địa đạo Củ Chi có một giao thông hào song song con lộ 6 bố trí nhiều ụ chiến đấu, trang bị hỏa lực mạnh nhằm lừa địch, nhử địch, chặn địch và tiêu diệt địch. Ngoài ra bốn mặt khu địa đạo Phú Mỹ Hưng (căn cứ Phú Hiệp) còn có 4 trạm thông tin, báo động, trang bị máy móc hiện đại.

    Những đồng chí lãnh đạo cấp cao thường đến làm việc và ở tại căn cứ Phú Hiệp đôi lần trong thời gian vài ngày đến vài tháng như:

    • Đ/c Nguyễn Văn Linh (bí thư Khu ủy Sài Gòn - Gia Định từ 1965 - 1975);
    • Đ/c Võ Văn Kiệt (bí thư Khu ủy Sài Gòn - Gia Định từ 1960 - 1965);
    • Đ/c Trần Bạch Đằng - Uủy viên thường vụ Khu ủy (1960 - 1965), bí thư Phân khu 6 (tháng 10 - 1967);
    • Đ/c Mai Chí Thọ - phụ trách An ninh (1965 - 1975);
    • Đ/c Uút Một - Khu ủy viên phụ trách Tuyên huấn;
    • Đ/c Nguyễn Văn Tứ - Khu ủy viên phụ trách Tổ chức công an;
    • Đ/c Năm Đang - Khu ủy viên phụ trách Tổ chức phụ nữ;
    • Đ/c Hai Mơ - Khu ủy viên phụ trách Quân sự;
    • Đ/c Tám Lê Thanh, Trần Hải Phụng...

    Tháng 1/1966, Mỹ huy động hàng ngàn tăng, pháo binh, không quân, hải quân và trên 3.000 quân đổ xuống vùng tam giác sắt (bao trùm cả địa đạo Phú Mỹ Hưng). Đây là trận càn mang tên Crimp (cái bẫy) với đầy đủ vũ khí, kỹ thuật tối tân, cốt phá hệ thống địa đạo. Các du kích luồn trong địa đạo, lúc ẩn lúc hiện, đánh phủ đầu rồi lại biến mất. Cuộc hành quân tốn kém nhưng không thực hiện được ý đồ, nên một năm sau, ngày 8/1/1967, địch tiếp tục mở cuộc càn lớn mang tên Cedarfall với trên 12.000 quân lính đủ các binh chủng, được yểm trợ tối đa của phi cơ, pháo binh, thiết giáp đánh phá ác liệt khu địa đạo Phú Mỹ Hưng và phụ cận.

    Chúng đưa pháo đài bay B52 rải thảm bom, dội pháo từng đợt, sau đó đưa trực thăng đổ quân ào ạt. Một đại đội chuyên phá hầm và địa đạo, được huấn luyện tại Đồng Dù, sử dụng chó, súng phun lửa, hóa chất, xe ủi hạng nặng và hàng chục trực thăng chở nước bơm xuống địa đạo. Chúng dùng xe ủi đất 60 tấn, có móc thọc sâu xuống địa đạo đoạn đưa mìn vào đánh. Chúng chia mỗi tốp 4 tên, hai tên xuống địa đạo, trang bị mặt nạ, đặt mìn, chuyền dây phá địa đạo. Dùng bom xăng đặc, đốt cháy cả khu rừng, biến xóm làng thành bình địa. Nhiều đoạn địa đạo sụp, xóa mất các chốt, các miệng hầm. Mỹ thú nhận: "tìm thấy miệng địa đạo, nhưng thiếu kinh nghiệm, không thu được gì!".

    Giữa tháng 3/1967, Mỹ lại tiếp tục mở trận càn Manhattan, sử dụng tăng kèm bộ binh từ Đồng Dù càn lên căn cứ Phú Hiệp (địa đạo Phú Mỹ Hưng). Du kích sử dụng B40 và B41. Trận chiến diễn ra ác liệt. Địch gọi B52 rải bom. Vài đoạn địa đạo bị sụp so với hàng chục cây số địa đạo. Lại thất bại trong mưu đồ "xóa sổ" khu địa đạo Phú Mỹ Hưng, địch sử dụng cỏ Mỹ (loại cỏ gặp mưa phát triển rất nhanh) cao từ 2 đến 3m, thân to và sắc, lấn át các thứ cỏ khác, gây khó khăn đi lại và rất dễ phát hiện dấu vết. Mùa khô chúng đốt cỏ nhằm phát hiện miệng địa đạo, rải máy đếm tiếng động của người để gọi pháo dập, hoặc gài mìn râu, mìn cóc và tiếp tục mở hàng trăm cuộc càn phá lẻ tẻ nhưng tất cả đều phá sản. Các chiến sĩ vẫn tiếp tục tập kích, lúc ẩn lúc hiện, chặn đầu, khóa đuôi, gây tổn thất nặng nề cho sư đoàn "Tia chớp nhiệt đới", "Anh cả đỏ" và sư đoàn 25 ngụy, làm cho địch bàng hoàng, sửng sốt.

    Ngày nay, để tưởng nhớ công lao bao chiến sĩ anh dũng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và đất nước, một khu đền tưởng niệm được xây dựng hết sức trang trọng và uy nghi tại Bến Dược. Trên văn bia đặt trước đền có đoạn ghi "...Chiến thắng lớn đến từ hy sinh to lớn. Ai đếm khăn tang, ai đong máu chiến trường? Con của mẹ ra đi không bao giờ trở lại, mẹ khóc mỗi hoàng hôn... chim bay về núi tối rồi...". Địa đạo Phú Mỹ Hưng được Bộ Văn hóa cấp bằng công nhận di tích theo quyết định số 54/VHQĐ ký ngày 29/4/1979.

  4.  
    Di chỉ Gò Cổ Lâm

    Gò Cổ Lâm tọa lạc tại ấp Thanh Đông, xã Thanh Điền, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

    Đây là một khu di chỉ gồm nhiều phế tích, đền tháp đã được khai quật năm 1990. Trên đỉnh gò có một ngôi chùa được xây dựng cách nay trên 100 năm, còn gọi là gò Chùa Cổ Lâm. Mặt gò hình chữ nhật rộng trên 5.000m2, cao khoảng 3m so với mặt ruộng. Phía Đông là con đường cao hơn mặt ruộng 0.5m, rộng 3m, dài 150m từ gò chạy thẳng đến "Bàu Vuông" nơi lấy đất để đắp gò.

    Toàn bộ kiến trúc chùa xây trên nền tháp chính, bằng gạch nằm theo trục Bắc Nam trên chiều dài 50m.Trên mặt gò rải rác khắp nơi còn nhiều viên gạch của tháp đổ xuống, cùng nhiều phiếm đá màu xanh xám. Ở phía Tây gò, chạy theo hướng Bắc Nam là những vỉa gạch lộ lên mặt đất với những viên gạch có số đo 37 x 12 x 7 cm. Đó là những phế tích chân móng 5 ngôi tháp đã bị sụp đổ từ xa xưa. Có kiến trúc hình gần giống mai rùa, chiều Đông – Tây 5.70m, chiều Bắc – Nam 3.80m, ở giữa có một hố vuông 1 x 1m sâu 0.75m.

    Gò Cổ Lâm là di tích khảo cổ lớn nhất trong tổng số 11 di chỉ thuộc xã Thanh Điền, và là một trong những di tích có qui mô khá lớn đã phát hiện ở Tây Ninh. Các phế tích kiến trúc ở gò Cổ Lâm khá giống các kiến trúc gạch ở di tích Vườn Dầu, Miễu Bà và các di tích khác trong tỉnh. Căn cứ vào những di tích được khai quật và so sánh với một số công trình kiến trúc trên vùng đất Nam Bộ, về gạch, tượng đá, các tư liệu sản xuất … các nhà khảo cổ học đã khẳng định di tích khảo cổ học Gò Cổ Lâm có niên đại khoảng thế kỷ thứ VIII sau Công Nguyên. Gò Cổ Lâm đã được công nhận là di tích khảo cổ học tại Quyết định số 3211/QĐ -BT ngày 12/12/1994.

    Tòa thánh Cao Đài Tây Ninh

    Tòa thánh Tây Ninh nằm cách trung tâm thị xã Tây Ninh khoảng 5km về hướng đông, được khởi công xây dựng năm 1936. Đây là một công trình kiến trúc nghệ thuật nổi tiếngvà là trung tâm hành đạo chính của đạo Cao Đài ở Tây Ninh, tọa lạc trong một khuôn viên có diện tích khoảng 1km, có tường rào bao bọc xung quanh.

    Tòa thánh Tây Ninh

    Trong khu thánh thất Cao Đài có nhiều điện thờ, nhà làm việc, nhà ở. Nổi bật trong quần thể kiến trúc là đền Thánh, theo kiến trúc của nhà thờ Công giáo có chiều dài 100m với hai tháp cao. Phía trước đền Thánh, trên cao là hình Thiên Nhãn, biểu tượng của đạo Cao Đài. Kiến trúc tòa thánh từ ngoài vào trong thể hiện sự hài hòa giữa mỹ thuật kiến trúc Á Đông và phương Tây với những hàng cột rồng rực rỡ kiểu cung điện, các vòm mái và hoa văn trang trí khéo léo, tinh xảo.
    Tại đây, còn có một số kiến trúc đẹp khác như cổng Chánh Môn, các tháp mộ, đền thờ Phật mẫu, đặc biệt là Bá Huê Viên với nhiều cây cảnh và các loài hoa đẹp. Hàng năm, nơi đây có lễ hội vía Đức Chí Tôn vào ngày 9 tháng giêng âm lịch và lễ vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu vào ngày rằm tháng 8 âm lịch thu hút rất nhiều du khách thập phương tham dự. Bên cạnh đó, du khách còn có dịp đến chợ Long Hoa - một chợ lớn nhất ở Tây Ninh để thưởng thức những thực phẩm chay phong phong, độc đáo và rất ngon miệng.

    Tòa thánh Cao Đài Tây Ninh

    Lịch sử


    Đạo Cao Đài làm lễ ra mắt ở Tây Ninh vào ngày 15 tháng 10 năm Bính Dần, tức ngày 19/11/1926 tại chùa Thiền Lâm còn gọi là Từ Lâm Tự hay chùa Gò Kén. Sau này chức sắc, tín đồ của Đạo đều xem ngày này là ngày “Hoàng khai Đại đạo”. Năm 1933, bắt đầu xây dựng Toà thánh, và hoàn thành vào năm 1947.

    Kiến trúc

    Khuôn viên Tòa thánh có diện tích khoảng 100 ha, có tường rào xây bao quanh với 12 cổng theo lối kiến trúc Tam quan. Mười hai cổng này tượng trưng cho 12 con giáp. Trong tổng thể nội ô Tòa thánh có gần 100 công trình lớn nhỏ và những con đường rộng thênh thang.

    Từ cửa Chánh Môn nhìn về hướng Đông là khu trung tâm Đền thánh Cao Đài. Với 3 Bửu tháp của ba vị Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh. Công trình này được chạp đắp nhiều hoa văn, hoạ tiết tinh tế. Trên thảm cỏ xanh, tượng Si Đạt Ta ngồi trên lưng ngựa đi tìm đạo. Trước đền thánh là một sân rộng có cây Bồ đề toả nhánh bên cây cột phướn. Hai khán đài hai bên được gọi là sân Đại Đồng Xã, là nơi để bà con tín đồ và khách hành hương về xem rước Cộ mẫu vào mỗi kỳ Đại lễ. Vào dịp Vía Đức Chí Tôn mùng 9 tháng Giêng, đây còn là nơi trưng bày những gian triển lãm. Mỗi gian đều thiết kế tượng hình thật sinh động, mô tả sự tích xưa thể hiện lòng Trung, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín của người xưa.

    Đền thánh là nơi thờ tự Đức Chí Tôn cùng các vị Giáo chủ, Thần, Thánh đứng đầu Tam Giáo, Ngũ chi theo quan niệm của giáo lý Cao Đài. Ngôi Đền thánh uy nghi nằm chếch về góc phía Tây Bắc gần cửa Hòa Viện, mặt tiền hướng Tây. Kiến trúc mặt ngoài của Tòa thánh gần như một nhà thờ Gia tô giáo. Hai tháp phía trước là 2 tháp chuông trống cao 27 m. Tháp chuông hình vuông, gồm 5 tầng cao 36m trong lầu treo trống gọi là “Lôi Âm Cổ”. Lầu chuông đối xứng với lầu trống, bên trong treo chuông gọi là Bạch Ngọc Kim Chung. Hai lầu này được gọi là Hiệp Thiên Đài. Hiệp Thiên Đài là cầu nối với trần tục (Cửu Trùng Đài) và Thần Linh Tiên Phật (Bát Quái Đài). Giữa hai tháp là một kiến trúc 3 tầng có sự kết hợp hài hoà những chi tiết biểu trưng của các loại hình kiến trúc tôn giáo. Tầng trệt có 4 cột gọi là Long trụ chống đỡ ban công có tượng ông Thiện và ông Ác hai bên. Ở khoảng giữa của đền thánh là Cửu Trùng Đài, nền có 9 bậc, mỗi bậc cao dần 20cm. Từ khoảng cách phần nền Hiệp Thiên Đài đến Bát Quái Đài có độ cao chênh nhau 1,8m. Khu vực này là khu hành lễ của tín đồ. Ở giữa Cửu Trùng Đài có 7 ngai, chạm trổ, sơn son thếp vàng, đây là nơi chầu của Giáo Tông, Chưởng Pháp và Đầu Sư thái – Thượng – Ngọc. Trên nóc Cửu Trùng Đài có tháp gọi là Nghinh Phong Đài cao 17m, gồm hai tầng tháp, trên tròn dưới vuông, mái bán cầu tượng trưng cho trời tròn đất vuông. Trên đỉnh đặt tượng hình Long Mã phụ hà đồ theo truyền thuyết cổ Trung Hoa. Bát Quái Đài gồm: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Chính giữa thờ Thiên Nhãn vẽ trên quả địa cầu có bán kính 3,30m. Tháp sau, trên vị trí Bát Quái Đài cao 19m, chia làm 5 tầng trên nền hình Bát Quái, bên trên có Bửu Tháp có tượng Tam vị Nhất thể theo truyền thuyết Ấn Độ là: Chrisna, Brahma và thần Siva.

    Đền thánh có bề ngang rộng 22m, dài 93m, cũng được chia thành 3 không gian là Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài, Bát Quái Đài theo như mô hình tổ chức của Đạo Cao Đài. Mái bê tông giả ngói, mỗi bên lại giật thành 3 cấp mái tạo nên cảm giác lâu đài, đình tạ nguy nga. Bên trong, dưới mái là trần bê tông cũng được tạo hình vòm mô phỏng bầu trời chi chít các vì tinh tú. Lòng nhà rộng, trần cao, trang trí trên trần mỗi gian là “Lục long du hành bất tuất” ở giữa, hai bên với ổ tam linh (rồng, phượng, lân). Hai hàng cột lớn đắp rồng càng làm tăng vẻ uy nghiêm. Mở đầu của giáo đường là ba tượng lớn (cao hơn 2m) ở giữa là Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, bên trái là tượng Thích Thượng Sanh Cao Hoài San cầm phất chủ, bên phải là Thượng Phẩm Cao Huyền Cư dáng đạo nhân cầm quạt. Cả ba tượng áp lưng vào Hiệp Thiên Đài, đứng trên Thất đầu xà với 3 đầu hướng lên biểu tượng: Hỷ, Ái, Lạc và 4 đầu hướng xuống biểu tượng cho Nộ, Ai, Ố, Dục. Phần giáo đường chia 9 cấp để định vị theo thứ bậc khi ngồi nghe giảng đạo (dưới Cửu Trùng Đài). Tiếp tới là Y Môn, trên đó có có hình nổi của các thần được thờ, trung tâm từ trên xuống là Phật, Lý Bạch, chúa Giêsu, Khương Tử Nha; bên trái từ trong ra là Khổng Tử rồi Quan Công; bên phải là Lão Tử rồi Quan Âm. Nền sau Y Môn có 12 cấp, 8 mặt trên đó đặt quả cầu vũ trụ (đường 3.66m) có điểm tinh tú làm nền cho con mắt nhìn ra. Hình thức con mắt cũng rất phổ biến tại giữa các cửa trổ ở các gian, vì con mắt là cửa tâm hồn “Nhãn Thị Chủ Tâm”, cần phải thấy được bản lĩnh thể chân tâm để bước vào thiện nghiệp.

    Tòa thánh Cao Đài Tây Ninh là một công trình kiến trúc đẹp, tinh xảo.

  5. Khu du lịch Ma Thiên Lãnh

     
    Khu du lịch Ma Thiên Lãnh


    Vị trí

    Khu du lịch Ma Thiên Lãnh nằm cách thị xã Tây Ninh chưa đầy 30 phút ôtô, được che mình bởi núi Lớn hay còn gọi là núi Bà Đen, núi Phụng và núi Heo. Ma Thiên Lãnh hiện ra như một quần thể địa danh được kiến tạo bởi hang Ông Hổ, suối vàng, hầm đá...

    Cảnh quan

    Từ chân núi, men theo con đường nhựa trải dài uốn lượn trên một sườn đồi một bên là núi và một bên là cheo leo vực thẳm, tiếng suối róc rách giữa đại ngàn bao la cùng một bầu không khí trong lành đến tuyệt vời. Buổi hoàng hôn của một Ma Thiên Lãnh hoang sơ nằm ẩn mình ở độ cao trên 50m giữa đồng bằng rộng lớn. Dừng xe ở cuối con đường, du khách men theo những bậc đá quanh co cạnh con suối vàng để bước tiếp lên hang Ông Hổ. Mặc dù có nhiều truyền thuyết tương truyền về sự ra đời của chiếc hang này nhưng là gì đi nữa, nơi đây cũng ghi nhận sự thành kính của nhiều người dân địa phương tin vào một đức tin thần bí.

    Từ trên cao nhìn xuống, du khách có thể dễ dàng nhận ra ngay cây đại thụ bồ đề đang mọc lên từ trên những phiến đá to nhẵn nhụi. Cách đấy không xa, trong một ngày gần đây, đường dây cáp treo sẽ được đưa vào hoạt động, góp phần đưa du khách chinh phục đỉnh núi Bà Đen mà không cần tốn sức. Từ trên đỉnh cao nhất của ngọn núi cao nhất đồng bằng, chúng ta có thể phóng tầm mắt quan sát khắp các vùng lận cận. Băng qua hố Bảy Ngày sâu hun hút và khi đã vượt qua những con dốc dựng đứng, cùng rừng tre già, một làn hơi nước mát lạnh từ trong các hốc đá sẽ làm chúng ta cảm thấy sảng khoái vô cùng, lên cao đến đỉnh là những sương là đà trông thật huyền ảo và lãng mạn cứ như một Sapa vậy. Vào buổi chiều, ở đây càng yên tĩnh hơn rất thích hợp cho những ai thích sự yên tĩnh trong khung cảnh thiên nhiên hoang sơ này. Con đường hình vòng cung cũng sẽ giúp du khách dễ dàng qua phía bên kia cửa núi, tiếp tục cuộc hành trình chinh phục từ chân núi phía đông lên đỉnh Điện Bà và quần thể chùa, am, điện.

    Khu du lịch Ma Thiên Lãnh

    Từ chân núi, men theo con đường nhựa trải dài uốn lượn trên một sườn đồi thơ mộng một bên là núi và một bên là cheo leo vực thẳm, văng vẳng bên tai đâu đó là tiếng chim kêu, vượn hú, tiếng suối róc rách giữa đại ngàn bao la cùng một bầu không khí trong lành đến tuyệt vời.

    Sapa hay cao nguyên Đà Lạt chăng? Không! Đấy chỉ là buổi hoàng hôn của một Ma Thiên Lãnh hoang sơ nằm ẩn mình ở độ cao trên 50m giữa đồng bằng rộng lớn.

    Nằm cách thị xã Tây Ninh chưa đầy 30 phút ôtô, được che mình bởi núi Lớn (hay còn gọi là núi Bà), núi Phụng và núi Heo, Ma Thiên Lãnh hiện ra như một quần thể địa danh được kiến tạo bởi hang Ông Hổ, suối vàng, hầm đá... Bắt đầu từ chân núi vào, ngồi trên xe bạn có thể thưởng ngoạn khung cảnh tuyệt vời như của Đà Lạt bởi hai bên là sườn đồi và thung lũng. Dừng xe ở cuối con đường, du khách men theo những bậc đá quanh co cạnh con suối vàng thơ mộng để bước tiếp lên hang Ông Hổ. Mặc dù có nhiều truyền thuyết tương truyền về sự ra đời của chiếc hang này nhưng là gì đi nữa, nơi đây cũng ghi nhận sự thành kính của nhiều người dân địa phương tin vào một đức tin thần bí. Từ trên cao nhìn xuống, du khách có thể dễ dàng nhận ra ngay cây đại thụ bồ đề đang mọc lên từ trên những phiến đá to nhẵn nhụi, Cách đấy không xa, trong một ngày gần đây, đường dây cáp treo sẽ được đưa vào hoạt động, góp phần đưa du khách chinh phục đỉnh Bà Đen mà không cần tốn sức. Từ trên đỉnh cao nhất của ngọn núi cao nhất đồng bằng, chúng ta có thể phóng tầm mắt quan sát khắp các vùng lận cận. Băng qua hố Bảy Ngày sâu hun hút và khi đã vượt qua những con dốc dựng đứng, cùng rừng tre già, một làn hơi nước mát lạnh từ trong các hốc đá sẽ làm chúng ta cảm thấy sảng khoái vô cùng, lên cao đến đỉnh là những sương là đà trông thật huyền ảo và lãng mạn cứ như một Sapa vậy

    Buổi chiều đến, nếu như những ai vẫn còn quyến luyến vẻ hoang sơ và tĩnh lặng của nơi này, xin chớ có vội quay về mà hãy nghỉ lại ban đêm ở những dãy nhà trọ cao cấp được dựng lên trong quần thể Ma Thiên Lãnh. Còn gì bằng nếu bạn tận tay bắt từng con ốc núi để rồi trổ tài đầu bếp của mình. Trở lại con đường vào chân núi, một khu vực trường bắn hiện đại và tầm cỡ sẽ được mở ra để giúp chúng ta tha hồ giải trí với trò săn bắn. Con đường hình vòng cung cũng sẽ giúp du khách dễ dàng qua phía bên kia cửa núi, tiếp tục cuộc hành trình chinh phục từ chân núi phía đông lên đỉnh Điện Bà và quần thể chùa, am, điện.

    Ma Thiên Lãnh là thế đấy, bằng những ưu đãi mà thiên nhiên đã ban tặng từ điều kiện khí hậu đến sinh thái, chính quyền và người dân Tây Ninh đang bắt nhịp đầu tư, quyết biến nơi đây thành một khu du lịch có sức hút riêng và mạnh mẽ, góp phần nâng cao chất lượng và sản phẩm ngành du lịch.
    Núi Bà Đen

    Vị trí

    Ngọn núi nằm trên địa bàn 3 xã Ninh Sơn, Tân Bình và Thạnh Tân, thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Đây là khối núi đá hoa cương, cao 986m, nổi giữa đồng bằng, nên còn gọi là núi Sót. Trên núi thường xuyên có mây phủ, vì thế còn có tên gọi khác nữa là Vân Sơn. Núi có diện tích trên 25 km2, sườn khá dốc gồm có ba ngọn là: núi Heo - núi Phụng - núi Bà Đen, là di tích danh thắng nổi tiếng ở Tây Ninh.

    Truyền thuyết Bà Đen

    Tên gọi Bà Đen gắn liền với truyền thuyết về bà Lý Thị Thiên Hương. Tương truyền, bà có làn da bánh mật (bà đen), là người con gái tài sắc và đức hạnh. Vào khoảng nửa cuối thế kỉ 18, cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn đã đẩy nhân dân lâm vào cảnh khốn khổ lầm than. Nguyễn Huệ dấy lên cao trào Tây Sơn dẹp thù trong giặc ngoài. Bấy giờ có người thanh niên tên Lê Sỹ Triệt, quê ở Quang Hóa (huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh ngày nay) tài cao, chí lớn, vì nước nhà nên chia tay người yêu là Lý Thị Thiên Hương lên đường phò Nguyễn Huệ giữ nước. Một hôm, bà bị cưỡng bức, vì giữ tiết hạnh nên đã gieo mình xuống núi quyên sinh. Sau đó ít lâu, Thiên Hương về báo mộng cho sư trụ trì chùa núi biết nơi thân thể bà đang bị gió sương bào mòn. Từ đó thi thể bà được đem về mai táng, phụng thờ. Tin này lan rộng ra và từng đoàn người về tụ họp trên núi để chiêm bái và cầu nguyện vì sự linh thiêng của người con gái tiết hạnh, xin được phù hộ độ trì. Nhà chùa đã cho lập đền thờ riêng để cúng bái. Việc hành hương về chùa vào mùa xuân đã trở thành tập tục quen thuộc từ đây.

    Quần thể di tích

    Ngày nay, hệ thống chùa Điện Bà ở núi có chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng, chùa Hang và một số hang động được các tăng ni, phật tử sửa chữa làm nơi thờ tự như động Thanh Long, động Ông Hổ, động Ba Cô, động Ba Tuần, động Thiên Thai, động Ông Tà... Từ chân núi lên đỉnh có bậc đá xếp theo lối mòn, uốn khúc dưới tán lá xanh. Từ chân núi, để lên đến điện Bà, bạn có thể đi bằng ba cách: đường bộ, đi cáp treo và hệ thống máng trượt.

    Trong kháng chiến, núi Bà Đen là nơi diễn ra nhiều trận chiến ác liệt. Tại đây có 3 khu triển lãm bảo tàng, giới thiệu một phần hiện vật và hình ảnh của cán bộ, chiến sĩ quân Giải phóng. Đó là động Kim Quang, khu chùa Hang và Chân Núi. Núi Bà Đen đã được xếp hạng di tích lịch sử và danh thắng quốc gia ngày 21/01/1989.

  6.  
    Rừng Chàng Riệc



    Rừng Chàng Riệc nằm ở biên giới Việt Nam - Campuchia, cách TPHCM chừng 130km, trong đó hơn 20km là đường xuyên rừng. Nơi đây có một di tích đáng chú ý: Căn cứ Trung ương Cục miền Nam thời kháng chiến chống Mỹ xâm lược.
    Qua khỏi đồn biên phòng Xa Mát, đường đến Chàng Riệc xuyên qua những khoảng rừng già với nhiều cây cổ thụ hai, ba người ôm không xuể, tán che kín trời. Trong thời chiến tranh, nhờ sự chở che của thiên nhiên và nhân dân vùng biên nên bộ đội hai nước luôn giữ vững thế trận trên toàn Nam Bộ và chiến trường Lào - Campuchia. Trong một lần về thăm khu căn cứ này, đồng chí Võ Văn Kiệt (nguyên Bí thư Khu uỷ Sài Gòn - Gia Định trong kháng chiến chống Mỹ) cho biết: Tại khu rừng biên giới này, mỗi khi Mỹ "cày" bom bên này thì bộ đội ta chuyển sang khu rừng bên kia phía nước bạn và ngược lại, nếu bên kia bị giội bom, quân ta lại trở về "R". Đúng là "rừng che bộ đội, rừng vây quân thù".

    Trong khoảng rừng nguyên sinh rộng trên 200ha đó, Trung ương Đảng đã chọn làm căn cứ chỉ đạo cuộc kháng chiến. Kể từ khi thành lập Trung ương Cục miền Nam (1961) đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, của Trung ương Cục tới đây làm việc như Nguyễn Văn Linh (Bí thư Trung ương Cục miền Nam đầu tiên), Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Đáng, Phạm Thái Bường, Trần Nam Trung... Rừng Chàng Riệc nhiều vô kể loại lá trung quân. Đó là loại lá thích hợp dùng lợp nhà, vừa mát, vừa bền và đẹp mắt, đồng thời không bị cháy lan khi hoả hoạn.

    Từ đồn Xa Mát vào khu di tích, điểm đầu tiên du khách gặp là di tích Ban An ninh Cục miền Nam. Đi sâu vào khu di tích là nhà làm việc của các đồng chí lãnh đạo và các khu nhà hành chính, nhà hậu cần, hội trường... Tất cả nối thông nhau bởi hệ thống 430m đường nội bộ và 1.253m hào giao thông. Đồ đạc, giường ngủ, bàn làm việc, máy điện thoại đều đơn sơ. Có một điều khá lạ lùng: Nhiều hố bom chỉ cách nhà làm việc chừng 10-15m mà khu nhà vẫn an toàn. Cách đây 20 năm, Bộ VH-TT đã tiến hành tôn tạo khu di tích và sau 16 tháng thi công, đã hoàn thành ngày 28.4.1994. Ngày khánh thành, đồng chí Nguyễn Văn Linh - nguyên Tổng Bí thư của Đảng - và nhiều cán bộ từng làm việc trong khu căn cứ đã về thăm lại chiến trường xưa.

    Trưa ở rừng già Chàng Riệc thực an bình. Trong không gian yên tĩnh, tiếng chim hót quyện trong tiếng gió hú như chìm sâu vào cõi biên mênh mông. Một màu xanh ngút ngàn, thẳm sâu. Ngồi nghỉ nơi từng một thời là trung tâm đầu não của cuộc chiến tranh thần thánh của quân, dân ta chống ngoại xâm, hồi nhớ về những năm tháng hào hùng, trong lòng mỗi du khách dâng trào niềm tự hào. Nhiều du khách nước ngoài tới đây tham quan, đã hiểu thêm ý chí, sức mạnh quật cường của một dân tộc trong quá khứ quyết giành tự do, độc lập. Đây cũng là một địa chỉ đỏ để giáo dục các thế hệ về truyền thống cách mạng.

    Chinh phục núi Bà Đen Tây Ninh

    Núi Bà Đen cao 986m, nằm ở phía đông bắc thị xã Tây Ninh, thuộc huyện Hòa Thành, giữa một vùng đồng bằng cách thị xã Tây Ninh khoảng 10km. Nhìn từ xa, núi Bà Đen trông giống như một chiếc nón rộng vành úp trên đồng bằng. Trên núi có nhiều đền chùa cổ kính, hang động đẹp, hoang sơ và nhiều loại cây cổ thụ

    Truyền thuyết về Bà Đen

    Câu chuyện huyền thoại về Bà Đen được lưu truyền trong dân gian như sau: Vào khoảng nửa cuối thế kỉ XVIII, những cuộc xâu xé nhau giữa Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn đã đẩy nhân dân lâm vào cảnh khốn khổ lầm than. Nguyễn Huệ dấy lên cao trào Tây Sơn dẹp thù trong giặc ngoài. Bấy giờ có người thanh niên tên Lê Sỹ Triệt, quê ở Quang Hóa (tức huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh ngày nay) tài cao, chí lớn, vì nước nhà nên chia tay người yêu là Lý Thị Thiên Hương lên đường phò Nguyễn Huệ giữ nước. Lý Thị Thiên Hương là cô gái xinh đẹp với làn da bánh mật và có đức hạnh. Người yêu lên đường vì nghĩa lớn, cô ở nhà sống trong vòng vây của cường hào ác bá nhưng vẫn một lòng chung thủy với người yêu. Vì không muốn làm tì thiếp cho bọn quan lại, nên bà quyết định lên núi đi tu và bị cọp ăn thịt. Sau khi chết, bà rất linh thiêng và phù hộ cho nhiều người trong vùng. Vì thế, thi thể bà được đem về mai táng, phụng thờ. Nhà chùa cũng đã cho lập đền thờ riêng để nhân dân đến cúng bái. Ngày nay, mỗi khi xuân về người dân khắp nơi lại đến đây hành hương, cúng bái.

    Đường lên đỉnh núi Bà Đen quanh co với nhiều cảnh quan đẹp. Lên núi, du khách có dịp ngắm nhìn toàn cảnh nơi đây và các vùng phụ cận. Trên núi có điện thờ Bà Đen, chùa Phật, phía sau chùa Phật có đường lên tượng Phật nhập Niết bàn, hang gió, động Sơn Thần với hòn đá thiên...

    Động Sơn Thần với hòn đá Thiên trên nú
    i

    Dưới chân núi là khu du lịch di tích lịch sử văn hóa núi Bà có diện tích rộng hành chục hecta với nhiều khu vui chơi, giải trí, dịch vụ du lịch khác. Đường bộ lên núi rất dễ đi, song khu du lịch đã đưa vào loại hình dịch vụ phục vụ đưa khách lên tham quan núi bằng cáp treo và máng trượt có chiều dài đoạn đường hơn 1.200m.

    Tượng Phật nhập Niết Bàn trên núi Bà
    Từ lâu, núi Bà Đen đã trở thành nơi hành hương tham quan hấp dẫn của tỉnh Tây Ninh và cả vùng miền Đông Nam Bộ đối với du khách thập phương.

    Núi Bà Đen

    Núi Bà Đen ở Tây Ninh, cách thành phố Hồ Chí Minh 110 km. Từ xa nhìn núi Bà Đen như một chiếc nón lá úp trên đồng bằng. Đây là ngọn núi cao nhất ở nam bộ.

    Núi Bà Đen còn gọi là núi Điện Bà, còn có tên là Vân Sơn, vì thường có mây phủ. Và còn có tên là núi Một.

    Tương truyền rằng:

    "Xưa kia có một người con gái là Lý Thị Thiên Hương ở Trảng Bàng, nhan sắc lộng lẫy, do tình duyên trắc trở, người con gái này bỏ lên núi và bị bọn phỉ giết chết, xác khô đen. Tên núi là Bà Đen có từ đó."

    Bà Đen có núi đá gập ghềnh, cây cối xanh tốt, trên có chùa Vân Sơn trông xuống hồ nước, nước hồ trong lặng.

    Đường lên đỉnh núi quanh co, có rất nhiều cảnh trí do thiên nhiên tạo ra. Lên trên cao, hướng về phía đông nam là ngọn núi Cậu. Hướng về phía tây bắc là ngọn núi Heo và núi Phụng.

    Tại Bà Đen có ba khu triển lãm bảo tàng được hình thành. Đó là động Kim Quang, khu chùa Hang và Chân Núi. Các khu này giới thiệu một phần hiện vật và hình ảnh của cán bộ, chiến sĩ quân giải phóng trước đây.

    Ngày trước Mỹ xây dựng trên đỉnh núi một trung tâm thông tin siêu tần số, diện tích 40.000 m2, và một đài quan sát nhìn thấu vào căn cứ cách mạng của ta. Núi Bà Đen là thắng cảnh đẹp của Tây Ninh.

  7. Hồ Dầu Tiếng

     
    Hồ Dầu Tiếng



    Hồ Dầu Tiếng là một hồ nước nhân tạo lớn của Việt Nam. Hồ thuộc huyện Dương Minh Châu, cách thị xã Tây Ninh khoảng hơn 30km, giáp với địa phận của tỉnh Bình Dương.

    Hồ được hình thành từ nhu cầu thiếu nước phục vụ cho việc tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp. Công trình được khởi công xây dựng ngày 29/4/1981 với các hạng mục chính như: đập chính cũng là bờ bao dìa 1.100m, cao 30m; đập phụ dài 29.000m, cao 10m bao quanh hồ; một đập tràn xả lũ ra sông Sài Gòn; hai cống dẫn nước ra kênh đông và kênh tây. Công trình hồ Dầu Tiếng được hoàn thành ngày 10/1/1985, hồ có diện tích 27.000ha và sức chứa 1.5 tỉ mét khối nước.

    Nước hồ Dầu Tiếng khá trong sạch, vào những ngày trời nắng đẹp, mặt hồ ánh lên màu xanh biếc, sâu thẳm... Dãy núi Cậu sừng sững trải dọc bên hồ tạo nên một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, sơn thủy hữu tình. Trong vùng hồ, các đảo Xỉn, đảo Trảng, đảo Đồng Bò là những nét chấm phá của bức tranh Hồ Dầu Tiếng. Đồi Thơ đứng cạnh rừng nguyên sinh sát bên hồ làm tăng thêm nét quyến rũ trong bức tranh toàn cảnh. Quanh bờ hồ còn có những thảm cỏ xanh mượt xen lẫn với những cây hoa dại đủ sắc màu.

    Chùa Ông trên núi Cậu

    Trên núi Cậu có chùa Ông, ở đây trông xuống vùng hồ khung cảnh thật tráng lệ. Nằm trong rừng cao su gần núi Cậu là hồ Cầu Nôm, nước cũng trong xanh, không khí ở đây thật trong lành mát mẽ và tĩnh mịch.

    Tuy là một công trình thủy lợi nhân tạo, song cảnh quan thiên nhiên nơi đây rất lãng mạn, trữ tình. Đến tham quan hồ, du khách có thể kết hợp thêm tuyến du lịch đến tòa thánh Tây Ninh, núi Bà Đen hoặc thắng cảnh núi Cậu của tỉnh Bình Dương.

    Căn cứ Trung ương cục miền Nam

    Căn cứ Trung ương cục miền Nam nằm cách thị xã Tây Ninh 64 km, gần sát biên giới Campuchia, giữa một khu rừng xanh tươi cây lá rộng khoảng 70 ha, đã thu hút sự quan tâm của nhiều du khách.

    Từ năm 1962 đến khi kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ, Căn cứ Trung ương cục miền nam (gọi tắt là R) là cơ quan cao nhất chỉ đạo và lãnh đạo trực tiếp cách mạng miền Nam. Năm 1989, khu di tích đã được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử và phục hồi gần như nguyên trạng.

    Con đường nhỏ đưa khách đến những căn nhà nhỏ bé đơn sơ ẩn mình sau tán lá rừng, có nhà hội họp tập thể, nhà làm việc của các cán bộ cao cấp, nhà ở của chiến sĩ và các ban, ngành. Những ngôi nhà này được dựng bằng tre, gỗ. Các vật dụng trong nhà như chiếc chõng tre, tủ, kệ, ghế vẫn được giữ nguyên như trước đây. Mỗi nhà đều có hầm kiên cố được nối với nhau bởi một hệ thống giao thông hào liên hoàn. Dấu vết chiến tranh còn hiện rõ nét với hàng chục hố bom, pháo. Chính tại nơi đây, các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội như Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Văn Linh, Phạm Hùng, Võ Văn Kiệt... đã từng ở và làm việc trong những năm tháng kháng chiến gian khổ và hào hùng.

    Nhà của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh

    Mặc dù nhiều lần bị địch đánh phá ác liệt, căn cứ Trung ương cục miền Nam vẫn được bảo vệ vững chắc và trở thành biểu tượng của tinh thần quả cảm, trí thông minh, tài thao lược của quân và dân Việt Nam. Khách có thể nghỉ ngơi trong những mái lều hoặc ngả lưng trên võng dù trong rừng cây và ăn một bữa cơm thời kháng chiến quanh chiếc bếp Hoàng Cầm. Nơi đây cfon thu hút một du khách với các hình thức dã ngoại đa dạng, sinh động và hấp dẫn.

    Vài Nét Về Tây Ninh

    Tây Ninh là một tỉnh biên giới của miền Đông Nam Bộ, với diện tích khoảng 4.028km2 gồm thị xã Tây Ninh và 8 huyện Tân Biên, Tân Châu, Dương Minh Châu, Châu Thành, Hoà Thành, Bến Cầu, Gò Dầu, Trảng Bàng.

    Tỉnh có đường biên giới chung với nước bạn Campuchia dài 240km, đồng thời giáp với tỉnh Kompong Cham ở phía bắc, hai tỉnh Prey-veng và Sway Riêng ở phía tây và tây bắc Campuchia. Ở phía đông giáp với tỉnh Bình Dương và Bình Phước, phía nam giáp với Thành phố Hồ Chí Minh và Long An. Trên địa bàn tỉnh còn có hai cửa khẩu quốc gia quan trọng là Mộc Bài và Xa Mát.

    Núi Bà Đen

    Về lịch sử thì vào cuối thế kỷ XVI, vùng này còn là rừng rậm hoang vu thuộc nước Chân Lạp (Campuchia). Sang đến thế kỷ XVII, nhất vào vào năm 1620, sau cuộc hôn nhân của vua Chey Chetta II và công chúa Ngọc Vạn (con của chúa Nguyễn Phúc Nguyên), mối quan hệ giữa người Việt và Khmer ngày càng thắt chặt hơn. Từ đây, công cuộc khai khẩn đất đai của các thế hệ người Việt được mở rộng hơn.Tây Ninh đã trở thành một vùng đất trù phú, giữ vị trí quan trọng về quân sự, kinh tế, ngoại giao giữa hai nước Việt Nam và Campuchia. Đến thời nhà Nguyễn, vùng này thuộc phủ Gia Định. Năm 1936, tỉnh Tây Ninh được thành lập sau khi hợp nhất hai huyện Tân Ninh và Quang Hóa từ phủ Tây Ninh.

    Về thành phần dân tộc, trên địa bàn tỉnh có ba dân tộc chính là người Việt, Khmer và người Chăm. Vì thế, tôn giáo chính nơi đây cũng gồm đạo Phật, Công giáo và đạo Cao Đài, trong số đó Tây Ninh được xem là trung tâm của đạo Cao Đài với tòa thánh Cao Đài được xây dựng qui mô tại huyện Hòa Thành, vốn là một công trình kiến trúc nghệ thuật nổi tiếng của cả nước. Hàng năm, vào ngày 9 tháng giêng và rằm tháng 8 âm lịch đều có tổ chức lễ hội vía Đức Chí Tôn và Đức Diêu Trì Kim Mẫu cuốn hút hàng vạn người từ mọi miền đất nước về tham dự.

    Vùng đất này còn là nơi tiếp giáp với vùng núi cao nguyên Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, vì thế khí hậu nóng ấm, ôn hòa quanh năm, thuận lợi cho hoạt động du lịch. Thị xã Tây Ninh chỉ cách Thành phố Hồ Chí Minh 99km, với tuyến đường Xuyên Á (quốc lộ 22A) đã được mở rộng thuận lợi cho giao thông từ trung tâm thành phố đến các huyện Trảng Bàng, Gò Dầu và nhất là đến khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài, nơi đang dần trở thành trung tâm thương mại lớn của Việt Nam và Campuchia. Bên cạnh đó, đến với vùng đất lịch sử này, bên cạnh việc chiêm ngưỡng công trình kiến trúc tiêu biểu của đạo Cao Đài, du khách còn có dịp tham quan khu du lịch núi Bà Đen, hay hồ Dầu Tiếng... để làm phong phú thêm cho cuộc hành trình khám phá đất Việt mến yêu của chính mình.

  8.  
    Trung Ương Cục Miền Nam


    Địa chỉ du lịch về nguồn và sinh thái hấp dẫn ở Tây Ninh

    Di tích lịch sử văn hóa Căn cứ Trung ương cục Miền Nam là một “địa chỉ đỏ” về du lịch về nguồn và nổi tiếng về hệ sinh thái rừng. Căn cứ Trung ương cục Miền Nam nằm cách thị xã Tây Ninh hơn 60 km thuộc xã Tân Lập, huyện Tân Biên (tỉnh Tây Ninh), cách biên giới Campuchia khoảng 3 km.

    Trong thời kỳ kháng chiến, đây là nơi làm việc của các đồng chí lãnh đạo cách mạng, như: Nguyễn Văn Linh, Phạm Hùng, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Chí Thanh, Phan Văn Đáng, Phạm Thái Bường, Trần Văn Xô, Trần Nam Trung... Địa hình hiểm trở với nhiều khu rừng già, nên nơi đây trở thành nơi trú ẩn và hoạt động an toàn cho lực lượng cách mạng. Nơi đây được công nhận là di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia vào năm 1990. Sau hai lần trùng tu tôn tạo vào năm 1994 và 2005, những di tích được khôi phục lại phục vụ khách tham quan.

    Vào khu di tích, du khách được tham quan khu vực trưng bày các hiện vật, hình ảnh liên quan đến sinh hoạt trong chiến khu ngày xưa. Bà Nguyễn Thị Định trong chiếc áo bà ba, đầu búi tóc đúng kiểu phụ nữ Nam bộ ngồi võng vá áo là tấm ảnh ấn tượng nhất đối với du khách. Bên cạnh đó là nhiều hình ảnh của các đồng chí lãnh đạo. Tại đây, du khách được xem và nghe hướng dẫn về lịch sử căn cứ và các chiến công. Nhờ có sa bàn điện tử với hệ thống đèn nhấp nháy gắn với lời của hướng dẫn viên, nên buổi thuyết minh rất sống động, hấp dẫn người nghe. Sau đó, du khách được đưa vào rừng bắt đầu chuyến khám phá căn cứ. Đường đi được tráng một lớp bê tông uốn lượn trong rừng. Nhà cửa ở căn cứ đều được phục chế lại theo nguyên bản, có sự đóng góp ý kiến của những người đã từng công tác tại đây. Độc đáo nhất là những mái nhà được lợp bằng lá trung quân - loại lá rừng có rất nhiều ở những cánh rừng vùng Đông Nam bộ. Lá trung quân đốt khó cháy và ít bắt lửa nên được các chiến sĩ dùng để lợp nhà, tránh bị bom đạn của kẻ thù đốt phá. Lợp nhà bằng loại lá này rất công phu, nhưng mái lợp đều đặn trông rất đẹp...

    Các chiến sĩ cách mạng ngày xưa cũng rất năng động đã chế ra loại bếp nấu mang tên Hoàng Cầm. Bếp phục vụ cho hàng trăm người ăn vẫn nổi lửa hàng ngày, nhưng địch không tài nào phát hiện vì không thấy khói. Bếp được đào sâu xuống đất và có ống dẫn khói vào một hầm. Bên trên hầm được rải lá khô. Nếu khói đầy hầm và tỏa lên thì bị lá khô chặn lại cho khói bay là đà dưới đất, không bay cao. Vì vậy, địch không tài nào phát hiện ra bộ đội đang trú ẩn trong khu rừng già này. Chính địa hình “rừng che bộ đội” và những sáng kiến độc đáo của các chiến sĩ cách mạng, mà địch không thể hoàn thành mục tiêu xóa sổ “Thủ đô Việt cộng” dù đã đổ nhiều bom đạn, kể cả B52 xuống vùng đất này.

    Thông thường, du khách đến đây theo các hoạt động về nguồn vào các ngày nghỉ, dịp lễ... Có thể tổ chức thành nhóm khoảng 10 người trở lên đi mới vui. Tour đi và về trong ngày hoặc ngủ lại thì khách phải liên lạc với Ban quản lý để được bố trí chỗ ở. An ninh thì khỏi phải lo vì nơi đây được bảo vệ rất tốt, không có hoạt động khai thác rừng, trồng rẫy của người dân trong khu vực này. Đến đây mà không nghỉ lại đêm để sống lại không gian một thời của các chiến sĩ cách mạng, thưởng ngoạn đêm trăng giữa rừng già hay bập bùng bên ánh lửa trại thắm tình bạn bè... thì thật là tiếc. Rừng ở đây được bảo vệ nghiêm ngặt nên vẫn còn rất nhiều những khu rừng già. Có những gốc cây lớn 3-4 người ôm. Rừng phủ kín không gian tái hiện căn cứ xưa. Nhiều chỗ rừng kín đến không nhìn thấy bầu trời mặc dù khu vực tham quan nằm rất gần với đường giao thông bên ngoài.

    Trung ương Cục miền Nam

    Thành Lập - Chức Năng - Nhiệm Vụ - Hoạt Động

    Trung ương Cục miền Nam là cơ quan đại diện cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam trực tiếp lãnh đạo miền Nam Việt Nam trong thời kỳ 1951-1954 và 1961-1975.

    Thời kỳ 1951-1954

    Khi Đảng Lao động Việt Nam ra công khai từ Đại hội II (1951), thì Trung ương Cục miền Nam ra đời, thay cho Xứ ủy Nam Bộ có từ năm 1946. Bí thư Trung ương Cục là Lê Duẩn, vốn là Bí thư Xứ ủy Nam Bộ. Phó Bí thư là Lê Đức Thọ, sau là Phạm Hùng. Các ủy viên: Phạm Hùng, Ung Văn Khiêm, Hà Huy Giáp, Nguyễn Văn Kỉnh. Cơ quan ngôn luận chính thức là báo Nhân Dân miền Nam.

    Đến tháng 9 năm 1954, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định giải thể Trung ương Cục miền Nam và lập lại Xứ ủy Nam Bộ.

    Thời kỳ 1961-1975

    Hội nghị lần thứ III Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) Đảng Lao động Việt Nam, họp ngày 23 tháng 1 năm 1961 đã quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam thay cho Xứ ủy Nam Bộ, được thành lập tháng 10 năm 1954. Trung ương Cục miền Nam (trong bài này được viết tắt thành TWCMN) là một bộ phận của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tại chiến trường miền Nam Việt Nam, có nhiệm vụ "...căn cứ vào nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc và các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương và Bộ Chính trị về cách mạng miền Nam mà đề ra chủ trương, chính sách, phương châm, kế hoạch công tác và chỉ đạo cụ thể ở miền Nam" -(Lịch sử VP.TWCMN 1961 - 1975, Nxb Chính trị Quốc gia 2005, trang 30). TWCMN có các phiên hiệu là B2, R, Ông Cụ, dùng để bảo mật trong chiến trường. Địa bàn chỉ đạo lúc đầu là cả miền Nam Việt Nam, tức từ vĩ tuyến 17 trở vào, đến năm 1965 điều chỉnh lại chỉ còn phụ trách từ Khu VI (gồm Lâm Đồng, Bình Thuận, Ninh Thuận) trở vào đến Cà Mau. Từ Ninh Thuận trở ra do Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo.

    Tháng 10 năm 1961 tại căn cứ Mã Đà, miền Đông Nam Bộ - vùng Trị An ngày nay - TWCMN họp phiên đầu tiên gồm có các ông: Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc), Võ Toàn (Võ Chí Công, Năm Công), Phan Văn Đáng (Hai Văn), Trần Lương (Trần Nam Trung, Hai Hậu), Phạm Văn Xô (Hai Xô), Phạm Thái Bường (Ba Bường), Võ Văn Kiệt (Sáu Dân), Nguyễn Đôn, Trần Văn Quang (Bảy Tiến), Trương Chí Cương (Tư Thuận).

    Hội nghị bầu ra ban thường vụ gồm 5 người với chức vụ sau:

    Nguyễn Văn Linh - Bí thư TWCMN
    Võ Chí Công - Phó bí thư TWCMN
    Phan Văn Đáng - Phó bí thư TWCMN
    Phạm Văn Xô - Ủy viên thường vụ
    Trần Lương - Ủy viên thường vụ

    Nguyễn Đôn và Trương Chí Cương được cử làm Bí thư và Phó Bí thư Khu V. Đặc biệt hội nghị quyết định thành lập các T1, T2, T3, T4... thay cho các liên tỉnh ủy trước kia; quyết định chuyển căn cứ từ Mã Đà về bắc Tây Ninh. Lúc này Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã thành lập ngày 20 tháng 12 năm 1960 nhưng chưa có lãnh tụ, do đó hội nghị tập trung chỉ đạo việc giải thoát luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Việc giải thoát thành công tại Phú Yên (đêm 30 tháng 10 năm 1961, tại mộ bà Du Ký vùng chân núi Chóp Chài, Tuy Hòa), vào cuối tháng 11 năm 1961, luật sư Nguyễn Hữu Thọ về đến bắc Tây Ninh.

    Ngày 1 tháng 1 năm 1962, Trung ương Cục miền Nam ra tuyên bố thành lập Đảng Nhân dân cách mạng miền Nam, và công bố cương lĩnh hoạt động của mình.

    Tháng 2 năm 1962 Đại hội lần thứ I Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được tổ chức và luật sư Nguyễn Hữu Thọ được bầu làm chủ tịch.

    Năm 1963, Trần Văn Trà (Tư Chi) vào thay Trần Văn Quang ra Trung ương.

    Cuối năm 1963, Lê Đức Anh (Sáu Nam) rời Hải Phòng vào Nam nhận nhiệm vụ Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Miền.

    Tháng 10 năm 1964, Nguyễn Chí Thanh được Trung ương cử vào làm Bí thư Trung ương Cục, kiêm Bí thư Quân ủy Miền. Ông truyền đạt nghị quyết Trung ương 9 khóa III, điều chỉnh lại công tác tổ chức chỉ đạo, từ đó TWCMN phụ trách trực tiếp từ Ninh Thuận vào đến Cà Mau. Phân công Võ Chí Công về khu V làm Bí thư Khu ủy, kiêm Chính ủy quân khu.
    Đầu năm 1965, Trần Độ (Chín Vinh) được Trung ương cử vào bổ sung thêm cho Trung ương Cục.

    Tháng 7 năm 1967, Nguyễn Chí Thanh đột ngột qua đời do bị đau tim. Tháng 10 năm 1967 Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, được Trung ương cử vào thay thế. Tiếp đến, Hoàng Văn Thái (Mười Khang), Ủy viên Trung ương Đảng, được Trung ương tăng cường vào làm Phó Bí thư TWCMN, kiêm Phó Bí thư Quân ủy Miền.

    Đầu năm 1968, Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị, được Trung ương bổ sung vào làm Phó Bí thư TWCMN, nhưng đến tháng 5 năm 1968 được chuyển sang công tác ngoại giao. Vào thời kỳ này Nguyễn Văn Linh kiêm thêm Bí thư Khu trọng điểm gồm Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định và một số huyện của các tỉnh phụ cận.

    Ngày 6 tháng 6 năm 1969, tại căn cứ Tà Nốt, Bắc Tây Ninh. Đại hội đại biểu quốc dân toàn miền Nam đã họp và bầu ra Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch. Hậu thuẫn cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là: Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh Các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình miền Nam Việt Nam (Mặt trận 2), cùng các đoàn thể cách mạng do Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo.

    Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ cùng đoàn TWCMN ra viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau đó Nguyễn Hữu Thọ ở lại miền Bắc cho đến sau ngày giải phóng miền Nam

    Tháng 3 năm 1973, Hoàng Văn Thái cùng đoàn do Phó Bí thư TWCMN Nguyễn Văn Linh dẫn đầu ra Bắc dự hội nghị, sau hội nghị Hoàng Văn Thái ở lại miền Bắc nhận nhiệm vụ mới.

    Các bí thư

    Lê Duẩn (1951-1954)
    Nguyễn Văn Linh (1961-1964)
    Nguyễn Chí Thanh (1964-1967)
    Phạm Hùng (1967-1975)

    Edit / DeleteCác Ban - Ngành trọng yếu - Văn phòng TWCMN
  9.  
    Các Ban, Ngành trọng yếu

    Văn phòng TWCMN


    Văn phòng Trung ương Cục miền Nam (VP.TWCMN) là cơ quan bảo đảm mọi hoạt động của TWCMN. Ngay sau khi TWCMN ra đời, các cơ quan, ban ngành, đoàn thể ... giúp việc cho TWCMN cũng đươc thành lập, trong đó có Văn phòng TWCMN. Đây là cơ quan tham mưu, tổng hợp, bảo vệ và phục vụ trực tiếp các hoạt động của TWCMN, đồng thời chịu sự chỉ đạo trưc tiếp của Thường vụ TWCMN.

    Xem chi tiết:


    Văn phòng Trung ương Cục miền Nam (VP.TWCMN 1961-1975) là cơ quan bảo đảm mọi hoạt động của Trung ương Cục miền Nam (TWCMN), được ra đời và kết thúc nhiệm vụ lịch sử cùng với quá trình tồn tại của TWCMN (1961-1975).
    Các bộ phận thuộc VP.TWCMN

    Khối Văn phòng

    Khối Văn phòng-C15: Nơi đây đặt ban lãnh đạo Văn phòng, đồng thời toàn bộ cán bộ của TWCMN sống và làm việc tại bộ phận này. Hiện nay khu di tích TWCMN được xây dựng và tôn tạo tại Khối Văn phòng - C15 khi xưa.

    Khi mới thành lập ban lãnh đạo văn phòng gồm có:

    Lê Vụ (Bảy Thành)-Chánh Văn phòng.
    Châu Quốc Tuấn (Ba Kiếng)-Phó Chánh Văn phòng.
    Nguyễn Văn Đậu (Bảy Xuội)-Phó Chánh Văn phòng.
    Bảy An-Phó Chánh Văn phòng.

    Sau nhiều lần luân chuyển và bổ sung, từ năm 1972 lãnh đạo Văn phòng TWCMN ổn định đến 1975:

    Châu Quốc Tuấn-Chánh Văn phòng
    Vũ Đức (Tám Nhân)-Phó Chánh Văn phòng
    Nguyễn Văn Sáu (Sáu Bằng)-Phó Chánh Văn phòng
    Phạm Ngọc Lân (Mười Tê)-Phó Chánh Văn phòng
    Tô Bửu Giám (Năm Giám)-Phó Chánh Văn Phòng

    Phụ trách quản trị C15: Chín Kỷ, Ba Hùng, phụ trách bảo vệ trực tiếp Nguyễn Chín Dũng (Chín Dũng ).

    Khối Nghiên cứu, Thống kê - Tổng hợp

    Khối Nghiên cứu,Thống kê-tổng hợp - C16: Khối này lúc đầu là tổ, bộ phận, do chánh văn phòng quản lý, sau lập thành Ban Nghiên cứu do TWCMN trực tiếp chỉ đạo. Trưởng ban: Vũ Đức (Tám Nhân), tháng 3 năm 1973 ra Bắc, ông Lê Thái Hiệp lên thay. Các Phó ban gồm: Nguyên Văn Tuấn (Ba Tuấn); Trần Quang Chiêu (Ba Văn). Các thành viên: Phạm Dân (Ba Hương), Nguyễn Bá Thọ (Mười Trận), Nguyễn Văn Tốt (Hai Bình), Lê Văn Thâm (Chín Sanh), Đào Phúc Lộc (Năm Đời, Năm Thu), Nguyễn Tấn Khế (Mười Sương), Tăng Anh Dũng (Sáu Thơ), Bùi Thị Nga (Bà Tám Chí-vợ của Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát), Nguyễn Thanh Cương (Tư Cương), Nguyễn Văn khá (Sáu Việt), Vũ Ngọc Lân (Tám Lân), Nguyễn Văn Tiên (Sáu Chí), Nguyễn Văn Tấn (Sáu Lực ), Năm Thạnh, Hai Nhẫn, Nguyễn Như Ý (Năm Chữ), Nguyễn Ngọc Sơn (Chín Cầm), Lê Trí Dũng, Huỳnh Thanh Xuân, Hữu Chí... Đây là cơ quan tham mưu, có nhiều đóng góp đắc lực cho sự chỉ đạo của TWCMN.

    Phụ trách quản trị C16: Tư Hội,Tư Sơn, Sáu Phát. Cấp dưỡng Hai Điệp, Hường.

    Khối Trọng điểm

    Khối trọng điểm - B23, sau đổi thành B24: Ngày 25 tháng 10 năm 1967 TWCMN giải thể Quân khu 7 và Quân khu Sài Gòn - Gia Định thành lập Khu Trọng điểm tại Đồi B9 (Chàng Riệt), đơn vị này lấy phiên hiêu là B23 thuộc VP.TWCMN, Khu trọng điểm chia thành 6 phân khu. Bí thư Khu Trọng điểm: Nguyễn Văn Linh, Phó bí thư: Võ Văn Kiệt.

    Phân khu 1 địa bàn gồm: Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, một phần các huyện Trảng Bàng, Bến Cát, Dầu Tiếng. Bí thư Phan Đức (Tư Trường). Tư lệnh Trần Đình Xu (Ba Đình).

    Phân khu 2 địa bàn gồm: Bình Tân (Bình Chánh, Tân Bình), các Quận 3, 5, 6 và bắc Long An. Bí thư Phan Văn Hân (Hai Xang), Phó bí thư Võ Trần Chí. Tư lệnh Hai Thanh. (Sau năm 1968 Hai Xang bị bắt và bị thủ tiêu, Hai Thanh đầu hàng, Phân khu 2 tan rã).

    Phân khu 3 địa bàn gồm: Quận 2, 4, 7, 8, huyện Nhà Bè và nam Long An. Bí thư Nguyễn Văn Chính (Chín Cần). Tư lệnh Tư Thân (Huỳnh Văn Mến). Sau Mậu Thân Khu Trọng điểm sáp nhập Phân khu 2 và 3 lại thành Phân khu 23, với cán bộ nòng cốt là của Phân khu 3.

    Phân khu 4 địa bàn gồm: Quận 1, 9, Thạnh Mỷ Tây, Thủ Đức, Long Thành, Nhơn Trạch. Tư lệnh Tám Quang (Năm Quyết).

    Phân khu 5 địa bàn gồm: Bình Hòa, Phú Nhuận, Dĩ An, Lái Thiêu, Phú Giáo, Tân Uyên. Bí thư [Hoàng Minh Đạo] (Năm Thu). Tư lệnh Ba Sinh (Nguyễn Văn Ngọt, bí danh Nguyễn Chí Sinh, năm 1968 bị bắt, Tám Hà nhận diện sau đó đầu hàng).

    Phân khu 6 gồm: Các lực lượng Nội thành không phân chia theo địa bàn như Biệt động, Đặc công ..., các lực lượng đoàn thể như Thành đoàn, Hoa vận, Trí vận... các đội tuyên truyền ... Bí thư Võ Văn Kiệt, sau đó Trần Bạch Đằng, Mai Chí Thọ. Tư lệnh Quân sự Trần Hải Phụng, Tư lệnh Biệt động (F.100) Nguyễn Đức Hùng (Tư Chu, Ba Tam). Chính ủy Minh Dũng, các chỉ huy phó Võ Tâm Thành, Trần Minh Sơn, Nguyễn Văn Hát.

    Chuẩn bị cho tổng tấn công năm 1968, Khu Trọng điểm chia thành 2 bộ chỉ huy tiền phương:

    Bộ chỉ huy tiền phương phía Bắc: Tư lệnh kiêm chính ủy Trần Văn Trà, Phó chính ủy Mai Chí Thọ.

    Bộ chỉ huy tiền phương phía Nam: Phụ trách Võ Văn Kiệt, Lê Đức Anh, Trần Hải Phụng, Trần Bạch Đằng. Nguyễn Văn Linh theo sát cánh này đến vùng ngoại ô Sài Gòn - Chợ Lớn, Bộ chỉ huy cánh Nam vào đến Chợ Thiết. Tiểu đoàn 261 (Hy rôn) của khu 2 trong đội hình này, khi bị bao vây tiểu đoàn trưởng Hai Hoàng còn kịp chuyển khẩu súng ngắn Colt 45 của Fidel Castro tặng cho đơn vị về căn cứ.

    Khối hành chánh - Tổ chức

    Khối Hành chánh-Tổ chức-C11, C13: Khối này chia ra các tổ đánh máy-in ấn, văn thư-lưu trữ, tiếp tân, giao liên nội bộ trong căn cứ, tuyển chọn và quản lý cán bộ chiến sĩ, bảo vệ nội bộ ... Lãnh đạo gồm: Phan Phát Phước (Tám Đen), Sáu Hiền, Phạm Minh Tâm (Tư Hòa), Bảy Bảy. Các Phó gồm: Trần Hoành (Năm Hoành), Võ Thanh Duy (Tám Duy), Tám Hiệp ...

    Khối Cơ yếu

    Khối Cơ yếu-C21, C62: Ban Cơ yếu Trung ương Cục miền Nam trực thuộc TWCMN, có nhiệm vụ vừa quản lý ngành, vừa phục vụ sự lãnh đạo của TWCMN, nên gắn bó chặt chẽ với Văn phòng TWCMN. Do đó Ban Cơ yếu chia làm 2 bộ phận, bộ phận quản lý ngành (C62) và bộ phận phục vụ TWCMN, nằm trong biên chế Văn phòng TWCMN (C21).
    Ban lãnh đạo gồm: Nguyễn Văn Hằng (Chính, Chín Ròm)-Trưởng ban, các Phó ban: Trần Tấn Liên (Tư Liên), Nguyễn Hoàng, ủy viên ban: Sáu Thảo, Bảy An. Các trưởng phòng có Nguyễn Văn Dầy phụ trách Phòng Mã dịch, Phạm Minh Đức (Năm Nhỏ) phụ trách nghiên cứu kỹ thuật mật mã. Trần Tấn Liên phụ trách trực tiếp bộ phận phục vụ nằm trong biên chế Văn phòng TWCMN.

    Khối Thông tin

    Khối thông tin-C25, B19, C31: Ban Thông tin liên lạc Trung ương Cục miền Nam trực thuộc TWCMN, có nhiệm vụ tổ chức cụm đài, mạng lưới thông tin liên lạc toàn miền Nam, phục vụ thông suốt việc chỉ đạo của TWCMN đến các chiến trường và giữ liên lạc thường xuyên với Trung ương ở miền Bắc.

    Ban thông tin R có các bộ phận: khai thác, kỹ thuật, điện báo, điện thoại, xưởng cơ công và trường vô tuyến điện; có hai bộ phận gắn liền với Văn phòng TWCMN, đó là C25 (Bộ phận thông tin vô tuyến, do Tám Mai phụ trách), bộ phận này thường ở rất xa Văn phòng TWCMN, bộ phận thứ hai là B19 (Bộ phận thông tin hữu tuyến, do Năm Tập phụ trách), bộ phận này bảo đảm thông tin liên lạc nội bộ giữa các lãnh đạo TWCMN, giữa các bộ phận trọng yếu trong toàn bộ Văn phòng TWCMN. Sang năm 1973 đến trước 30 tháng 4 năm 1975, hệ thống thông tin trong Văn phòng TWCMN còn có bộ phận thông tin hữu tuyến của Bộ tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, giúp bảo đảm liên lạc của TWCMN bằng hữu tuyến đến Bộ chỉ huy Miền, các Quân khu, Quân đoàn và với Trung ương ở miền Bắc.

    Trưởng Ban Thông tin R: Nguyễn Thành Danh (Sáu Đại), Phó Ban: Đỗ Bông, các ủy viên là Bùi Văn Nê, Vũ Đức Bang.

    Khối quản trị hậu cần

    Khối quản trị và hậu cần gồm C17 - C18 - B9...: Khối này gồm nhiều bộ phận nghiệp vụ như tài vụ, chăn nuôi, may mặc, thu mua, vận chuyển, kho hàng, y tế (bệnh viện), quân số thường trực khoảng 300 người. Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, cơ quan thường xuyên di chuyển (Trong 15 năm, VP.TWCMN di chuyển trên 30 căn cứ khác nhau, hàng trăm căn cứ dự bị được xây dựng), việc bảo đảm hậu cần là tối cần thiết, thậm chí là một kỳ công. Riêng C18 (bệnh viện), lúc nào cũng đầy bệnh nhân, nhiều nhất là sốt rét, rắn cắn, cùng nhiều tai nạn rủi ro khác. Nhân sự tại BV đông nhất là 50 người gồm 5 bác sĩ, 8 y sĩ, 10 y tá, 1 nha sĩ, có khoa dược do Bà 2 già đảm trách, khoa X Quang bác sĩ Bôn chịu trách nhiệm. Hội đồng BS có gần 20 người, khi cần thiết thì Ban Dân y, Quân y tiếp sức, các BS Trương Công Trung, Nguyễn Thiện Thành thường qua chăm sóc cho lãnh đạo TWCMN.

    Phụ trách khối này là Phó văn phòng Nguyễn Văn Sáu (Sáu Bằng), Trưởng phòng Nguyễn Hữu Tân (Năm Mộc), các Phó phòng Ba Quế, Tư Quý, Ba Dần, Mười Trường.

    Khối Giao-Bưu-Vận

    Khối Giao - Bưu - Vận, A7 Đoàn 45 và A-53: Ngày 2 tháng 6 năm 1962 Ban Giao-Bưu-Vận Trung ương Cục được thành lập (gọi tắt là Ban Giao bưu R). Nhiệm vụ của Ban Giao bưu R là bảo đảm đường dây thông suốt từ Bắc vào Nam, từ TWCMN đi đến các chiến trường, đây là hệ thống mạch máu quan trọng của sự nghiệp Cách mạng giải phóng miền Nam. Từ VP.TWCMN mạch máu được nối liền với cơ thể thống nhất đó bởi Đoàn 45 của Ban Giao bưu R, đầu mối trực tiếp đồng thời cũng là Trung tâm chỉ huy của đoàn là trạm A7, đầu mối này luôn gắng chặt với VP.TWCMN. Lãnh đạo của đoàn lúc đầu là Trịnh Văn Thành (Sáu Thành)), về sau là Sáu Đờn và Năm Châu.

    Ban lãnh đạo của khối lúc mới hình thành gồm: Trưởng ban Nguyễn Chí Quyết (Dụng), các Phó ban Trần Văn Thâm (Ba Cao), Nguyễn Văn Hóa (Sáu Tiến), ủy viên Trần Nam Thống (Đức). Về sau có thay đổi: Trưởng ban Trần Thắng Minh (Hai Quang, hai Móc), các Phó ban Nguyễn Ba (Ba Cao), Trần Nam Thống, Trịnh Văn Thành (Sáu Thành).
    Quân giải miền Nam có hệ thống quân bưu riêng, nòng cốt là các Binh trạm Trường Sơn của Đoàn 559, đầu mối tại Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam là Phòng 3 (Ô 3).

    Riêng VP.TWCMN còn có đường dây A-53 do Dương Quang Đông (Dung Văn Phúc)-Phụ trách. Đường dây này bảo đảm cho TWCMN cử cán bộ đến các chiến trường, về Hà Nội hoặc đến các nước bằng lối đi công khai.

    Khối Bảo vệ

    Khối bảo vệ - D1 An ninh vũ trang: Là cơ quan đầu não của Cách Mạng miền Nam, nên việc bảo vệ VP.TWCMN cũng là nhiệm vụ chính của các lực lượng vũ trang Cách Mạng miền Nam. Trước nhất thuộc về lực lượng vũ trang Quân giải phóng miền Nam. Kế đến là lực lượng An Toàn Khu (ATK) do Ban căn cứ TWCMN phụ trách, về sau lực lượng bảo vệ căn cứ phát triển thành Đoàn 180 An ninh vũ trang, do Ban An ninh TWCMN quản lý (Trực tiếp là Tiểu ban an ninh vũ trang do Tám Lê Thanh chỉ huy ).

    VP.TWCMN cần tính bảo mật cao, nên cơ động nhiều, ít khi ở chung với khối Dân sự, luôn gần gủi với Bộ tư lệnh Quân giải phóng miền Nam. Lực lượng bảo vệ tiếp cận của VP.TWCMN do Ban An ninh TWCMN phụ trách từng bước trưởng thành, lúc đầu cấp đại đội, đến năm 1968 hình thành tiểu đoàn độc lập với trang bị mạnh về vũ khí, lấy tên là Tiểu đoàn 1 An ninh vũ trang (D1 - An ninh vũ trang). Dù bất cứ VP.TWCMN đóng quân trong đội hình nào, thì D1 - an ninh vũ trang, cũng là đơn vị bảo vệ trực tiếp và tuyệt đối. Để bảo đảm bí mật, nội quy của đơn vị rất khắc khe về nơi ăn chốn ở, việc ra vào đơn vị phải đủ giấy tờ, các chốt gác và các tốp tuần tra cảnh giới luôn theo dõi chặt chẻ mọi diễn biến xung quanh khu vực trú đóng và các lối mòn nội bộ (Những lúc ở chung với Bộ chỉ huy Miền, phải qua nhiều chốt kiểm tra của Cục chính trị Quân giải phóng miền Nam, trước khi đến khu vực tiểu đoàn 1 quản lý).

    Nhà ở các lãnh đạo TWCMN, ngoài các cận vệ trực tiếp còn có các chốt chặn bên ngoài, dù cùng khối văn phòng nhưng không có trách nhiệm không được đến khu vực các lãnh đạo TWCMN. Giửa các khối, rất hạn chế việc qua lại với nhau, đặc biệt không được vào khối văn phòng. Các lính cận vệ của cán bộ cao cấp về đến VP.TWCMN làm việc thì không được trở ra nữa, được sung vào lực lượng "Ngự Lâm", lính "Ngự Lâm" thì không được ra khỏi căn cứ đi chiến trường. Trong nội bộ nhiệm vụ ai nấy biết, công việc đơn vị nào biết đơn vị đó, không được tìm hiểu, lỡ biết không được nói. Đối với bên ngoài tuyệt đối không để lộ danh tánh đơn vị mình.

    Từ lúc qua Campuchia (tháng 6 năm 1970 ), là đơn vị độc lập tác chiến trong việc bảo vệ VP.TWCMN, Tiểu đoàn 1 được trang bị xe Jeep và Honda 90cc dùng để đưa rước cán bộ lãnh đạo đi công tác, về sau trang bị thành Đội xe, nên tiểu đoàn bảo vệ có thêm nhiệm vụ đưa đón khách vào ra VP.TWCMN.

    Tiểu đoàn trưởng qua các thời kỳ gồm có: Đào Tiên Thưởng (Năm Ngọc Minh), Phan Văn Khi (Tư Châu lớn); các tiểu đoàn phó: Dương Văn Giáo (Năm Giáo), Phạm Thành Thái (Mười Thái); các chính trị viên: Nguyễn Văn Hiền (Năm Hiền), Nguyễn Văn Sơn (Năm Sơn), Nguyễn Hồng Châu (Tư Châu nhỏ). Tiểu đoàn một An ninh vũ trang được Nhà nước tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 24 tháng 1 năm 1976.

  10.  
    Địa bàn hoat động
    của VP.TWCMN thời kỳ 1961-1975.



    Trải qua gần 15 năm trường kỳ kháng chiến, VP.TWCMN di chuyển gần 40 địa điểm khác nhau từ Chiến khu Đ, sang Chiến khu Tây bắc Tây Ninh, sang Campuchia và sau cùng về trú đóng tại Romduol (Chàng Riệt - Tây Ninh) cho đến ngày giải phóng miền Nam 30 tháng 4 năm 1975. Thời kỳ trên được chia làm các giai đoạn và địa bàn như sau:

    Thời kỳ 1961-1962: Thời kỳ này TWCMN mới được thành lập tại Chiến khu Đ, ngay sau đó VP.TWCMN cũng được thành lập, lực lượng nòng cốt của VP.TWCMN dựa trên lực lượng chính của Văn phòng Xứ ủy Nam Bộ. Ngày 19 tháng 1 năm 2004, Bộ Văn hóa-Thông tin đã ra Quyết định số 02/2004/QĐ-BVHTT công nhận địa điểm căn cứ TWCMN (thời kỳ 1961-1962) thuộc xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai là di tích quốc gia.

    Thời kỳ 1962-1967: Do điều kiện sinh hoạt tại Mã Đà quá khắc nghiệt, nên sau khi Đại hội lần thứ I xong, TWCMN quyết định về lại chiến khu Bắc Tây Ninh, vùng Chàng Riệt-Núi đất.

    Thời kỳ 1967-1969: Thời kỳ này VP.TWCMN trú đóng tại vùng rừng Le, nằm về hướng Đông-Bắc Cà Tum.

    Thời kỳ 1969-1970: Sau khi căn cứ bị lộ và bị B52 tấn công, VP.TWCMN chuyển về vùng Móc Câu, nằm trên thượng nguồn sông Sài Gòn, sâu vào phần đất Campuchia.

    Thời kỳ 1970-1973: Do cuộc chiến tranh mở rộng ra toàn cõi Đông dương, nên VP.TWCMN di chuyển sang Campuchia, trú đóng trên vùng phía Tây bờ sông Mekong, thuộc tỉnh Cần Ché.

    Thời kỳ 1973-1975: Đóng quân tại Romduol, nơi có khu di tích TWCMN hiện nay.
    Ngày 2 tháng 5 năm 1975 về Thủ Đức tại Học viện Cảnh sát Quốc gia. Đến 31 tháng 12 năm 1975 VP.TWCMN chấm dứt sự tồn tại của mình (sau khi TWCMN hoàn thành vai trò lịch sử đúng 3 tháng).
    Vị trí đóng quân của VP.TWCMN trên đất Campuchia.

    Đơn vị vượt biên giới Campuchia ngày 7 tháng 4 năm 1970, cuối tháng 5 năm 1970 đội hình VP.TWCMN đến dừng chân tạm trên dọc tuyến sông Chhlong, dòng sông này đổ ra thị trấn Chhlong, tỉnh Karacheh. Trong khi chờ lực lượng tiền trạm xác định hướng di chuyển mới, VP.TWCMN xác định đối phương đã lần ra dấu vết của mình, do B52 cày nát những nơi TWCMN đi qua hoặc vừa mở máy phát sóng, các hãng thông tấn nước ngoài có những dự báo về hướng di chuyển của TWCMN không khác so với thực tế bao nhiêu. Từ đó TWCMN đi đến một quyết định vô cùng táo bạo. Đêm 6 tháng 6 năm 1970 toàn bộ đội hình VP.TWCMN vượt sông Mekong bằng những chiếc ghe bầu do bà con Viêt kiều vừa thoát khỏi các trại tập trung của Lon Nol đưa đón, và vào sâu trong các vạt rừng phía tây dòng sông Mekong, TWCMN đồng thời cấm không cho các đơn vị vũ trang hoặc dân chánh Đảng vượt qua dòng sông này. Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử, VP.TWCMN không nằm trong tầm bảo vệ của Bộ tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, và của Ban căn cứ TWCMN, chỉ riêng Tiểu đoàn 1 bảo vệ, có sự phối hợp chỉ huy của Ban An ninh TWCMN, VP.TWCMN đã dấu mình một cách độc lập phía Tây dòng sông Mekong.

    Tuy vậy những con đường xe be (xe chở gổ) xuất phát từ Bào Lùng (Phumi Prek Pralung), Pra xốp (Phumi Prek Prasab), Phum Cô (Phumi Kampong Kor), Chụt tha ma (Phumi Chrouy Thma) ...nối hình rẽ quạt vào trung tâm căn cứ TWCMN (Phum Sưng Tộ) bị B52 tiếp tục đánh bom trong những ngày đầu mới đến, C25 lại một phen nữa bị cày nát, những chiếc máy vô tuyến điện cuối cùng không còn dùng được nữa. TWCMN mất liên lạc với Trung ương (Miền Bắc) một thời gian ngắn, hơn mươi ngày khi nối lại liên lạc, Bộ chính trị ôm nhau mà nước mắt tuôn trào. Có lẽ do chuyển hóa giữa họa thành phúc chăng? sau khi quyết định ẩn náo một mình phía Tây sông Mekong, thay đổi kỹ thuật phát sóng, và đến lượt thay đổi luôn những chiếc máy còn lại (do B52 phá hủy), đến lúc này B52 mới bỏ rơi VP.TWCMN .

    Khu vực đóng quân của VP.TWCMN gồm:

    Đông cách sông Mekong từ 3 km đến 10 km, dựa theo vòng cung của sông Mekong.
    Bắc giáp với Phumi Roha (Roha), tỉnh Kracheh.
    Tây giáp với đường xe be (xe lấy gổ)từ Phumi Roha, đi đến các phum Phumi O Pram (O Pram), và Phumi O Chok (O Chak),tỉnh Kampong Cham.

    Nam giáp Phumi stoeng Tro (Stoeng Tro),tại Phum Tộ (Phumi Stoeng Tro), có thêm khu nghỉ mát cho lãnh đạo TWCMN. Từ đây hướng về phía Tây là tỉnh Kampong Chhnang, hướng lên Tây Bắc là tỉnh Kampong Thom, Siem Reap, hướng lên Bắc là tỉnh Preah Vihear và tỉnh Stung Treng, cả vùng hậu cứ núi rừng trùng điệp.

    Căn cứ dự bị của VP.TWCMN được xây dựng về hướng Tây Bắc, trên vùng đất tỉnh Campong Thom, cách Phumi Stoeng Tro khoảng một ngày đường đi bộ. Đây là khu rừng già yên tỉnh, có nhiều đồi núi chập chùng, nhiều Voi và thú rừng, lối Voi đi ngang dọc như đường phố. Khi cuộc càn "Toàn Thắng 1.71" tấn công lên vùng Đông-Bắc Campuchia, VP.TWCMN cho chuyển lên đây 100 tấn gạo, nhiều tấn muối và vật dụng cần thiết.

    Ngày 24 tháng 2 năm 1971, bộ phận xây dựng được tạm thời rút về, lúc này Đỗ Cao Trí thiệt mạng do rơi máy bay, cục diện chiến trường thay đổi, Quân giải phóng chuyển thế phản công. VP.TWCMN cho chuyễn gạo, muối về thì không còn gì cả, bởi Voi và thú rừng chén sạch. Kho muối đến cái bao đựng cũng không còn, chúng cạp ăn cả đất tạo thành những cái hố.

    Vùng hữu ngạn sông Mekong về sau có thêm căn cứ Trung ương Đảng cộng sản Campuchia (Khme đỏ), Ban liên lạc Việt kiều Campuchia, Cơ quan Trung ương Đảng cộng sản Campuchia khi mới thành lập, bộ khung nhân sự, từ chị nuôi, bảo vệ, hành chánh, văn thư ... do VP.TWCMN cử qua, chỉ huy trưởng là Nguyễn Chính Dũng C15.

    Các cơ quan ban ngành TWCMN đóng quân dọc hai bên quốc lộ số 2 từ Đầm-Be (Dambe) đến nam Sa-Lông (Chhlong), trong đó khu vực Dambe được coi như khu vực trung tâm.(Khu trung tâm)

    Bộ tư lệnh Quân giải phóng miền Nam đóng quân từ mạn Đông-Nam Chhlong lên hướng Đông-Bắc Chhlong, khu vưc trải rộng gồm cả bờ Đông sông Mekong từ Chhlong đi Kracheh. Trong đó khu vực trung tâm là Phumi Damrei Phong .(Khu trung tâm).

    Khu vực thượng nguồn sông Chhlong, khoảng giửa Chhlong và Kracheh có V14 (Ban giao bưu TWCMN) và các binh trạm Nam Trường Sơn, đây là nơi tập kết các con em miền Nam, các thương phế binh đưa ra Bắc học tập và trị bệnh. Đồng thời cũng là nơi tiếp nhận lực lượng chi viện ở miền Bắc vào và phân phối đi các chiến trường.

  1. Đến và đi từ dòng sông Mekong.

     
    Đến và đi từ dòng sông Mekong.

    Những mốc thời gian không bao giờ quên:

    Ngày 7 tháng 4 năm 1970 VP.TWCMN vượt lộ số 7 vào đất Campuchia.

    Ngày 6 tháng 6 năm 1970 đội hình VP.TWCMN đến bờ phía Đông và vượt sông Mekong ngay trong đêm.

    Ngày 28 tháng 1 năm 1973 ( nhằm 25 tháng chạp năm 1972 AL ), tại vùng căn cứ, các đơn vị của VP.TWCMN tổ chức làm heo, ăn tết sớm .

    Ngày 31 tháng 1 năm 1973 ( ngày 28 tết ), đơn vị bắt đầu hành quân, lên đường về nước. Lon Nol tuyên bố ngừng bắn trong mấy ngày tết Việt Nam.

    Ngày 1 tháng 2 năm 1973 ( ngày 29 tết ), toàn bộ đơn vị vượt sông Mekong trong trạng thái thanh bình, do có lệnh ngừng bắn.

    Ngày 4 tháng 2 năm 1973 VP.TWCMN vượt lộ số 7 về vùng căn cứ cũ Chàng Riệt. Đội hình đóng quân dọc biên giới từ Dân Số, Tiên Cô, Đồi B9 (khu đất đỏ Chàng Riệt ), bọc xuống Trảng Dầu (Ban tổ chức TWCMN). C25 đóng quân trên lộ ủi, xa về hướng Cà Tum. Ban tổ chức TWCMN, có bộ phận tiếp nhận tù chính trị được trao trả theo hiệp định Paris đóng căn cứ tại Trảng Tà Xia, đoạn giửa Thiện Ngôn-Lò Gò, bộ phận thứ 2 do Hai Dũng phụ trách đóng tại Lộc Ninh.

    Ban Quân sự TWCMN: Ban Quân sự TWCMN được chuyển thể từ Ban Quân sự Xứ ủy Nam Bộ, là tiền thân của Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam, lấy ngày 15 tháng 2 năm 1961, ngày mà Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương có chỉ thị về việc thống nhất các lực lượng võ trang giải phóng miền Nam, làm ngày truyền thống.

    Bộ chỉ huy Ban Quân sự TWCMN gồm có:

    Thiếu tướng Trần Lương - Trưởng Ban Quân sự TWCMN
    Phạm Thái Bường - Chính ủy Ban Quân sự TWCMN
    Thiếu tướng Trần Văn Quang - Chỉ huy Trưởng Các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam
    Nguyễn Hữu Xuyến - Chỉ huy Phó Các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam
    Phạm Văn Xô - Phụ trách Hậu cần

    Sau một thời gian ngắn Phạm Thái Bường chuyển sang nhiệm vụ khác, Trần Lương kiêm nhiệm Chính ủy Ban Quân sự TWCMN.

    Đến tháng 10 năm 1963, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam và cấp ủy Đảng đồng cấp, sau này thường gọi là Quân ủy Miền và Bộ Tư lệnh Miền, nhân sự gồm:

    Nguễn Văn Linh, ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Trung ương Cục kiêm Bí thư Quân ủy Miền
    Trung tướng Trần Văn Trà, Phó Tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam làm Tư lệnh Miền
    Thiếu tướng Trần Độ sẽ vào làm Phó Chính ủy Miền

    Ban An ninh TWCMN: Ban An ninh TWCMN khi mới thành lập, Phan Văn Đáng làm Trưởng Ban, Cao Đăng Chiếm làm Phó Ban, Huỳnh Việt Thắng làm uỷ viên. Từ năm 1968-1974 Phạm Thái Bường làm Trưởng Ban, từ năm 1974 đến giải phóng Cao Đăng Chiếm làm Trưởng Ban.

    TWCMN với kế hoạch Tìm và Diệt của đối phương

    Trong bất cứ cuộc chiến tranh hoặc xung đột nào, cơ quan đầu não của hai bên đều là mục tiêu tấn công của nhau. TWCMN bao giờ cũng nằm trong kế hoạch hàng đầu của mọi kế hoạch mà người Mỹ đã áp dụng ở Việt Nam. Sau đây là một số cuộc tấn công điển hình vào căn cứ, có tác động trực tiếp đến cơ quan lãnh đạo TWCMN:

    Ngày 3 tháng 2 năm 1963: 72 lượt chiếc máy bay Dakota (C-47 Skytrain) đổ quân nhảy dù xuống Trảng Ba Mặt (Tây Ninh), đây là vùng hậu cứ của văn phòng TWCMN, buộc C260 đơn vị bảo vệ văn phòng TWCMN, do Phạm Văn Khi (Tư Châu lớn) trực tiếp chỉ huy đánh chặn.

    Ngày 15 tháng 12 năm 1965: pháo đài bay B-52 đã tập kích thẳng vào cơ quan đầu não của Cách Mạng miền Nam - Văn phòng TWCMN, tại khu căn cứ Núi Đất (địa danh này do VP.TWCMN tự đặt, mô tả căn hầm chỉ huy có chiều dài 2 5m, rộng 20 m, cao 10 m, với thể tích mô đất gần 5.000 m³, nơi đây còn có căn nhà sàn dành cho Đại tướng Nguyễn Chí Thanh làm việc và nghỉ ngơi).

    Ngày 22 tháng 2 năm 1967: Mở màn cho đợt phản công chiến lược mùa khô lần thứ 2 năm 1966-1967. Trận càn Junction City với quyết tâm cao độ về chiến lược cũng như về chiến thuật, người Mỹ muốn giải quyết chiến trường trước khi mùa mưa năm 1967 bắt đầu, để thực hiện kế hoạch rút quân Mỹ và đồng minh về nước vào cuối năm 1967 như lời Đại tướng William Westmoreland đã hứa với Quốc hội Mỹ. Cuộc hành quân "Tìm và Diệt" này lớn nhất trong Chiến tranh Việt Nam, do tướng 3 sao, Tư lệnh lực lượng dã chiến số II Jonathan Simon chỉ huy.

    Mỹ đã tung vào đây 45.000 quân với những đơn vị thiện chiến như: Sư đoàn bộ binh số 1 (Anh Cả Đỏ), sư đoàn bộ binh số 25 (Tia Chớp Nhiệt Đới), sư đoàn bộ binh số 4, sư đoàn bộ binh số 9, lữ đoàn bộ binh số 196, lữ đoàn dù 173, lữ đoàn thủy quân lục chiến Sài Gòn, 4 tiểu đoàn biệt kích và Make-Force cùng nhiều quân binh chủng yểm trợ khác. Phạm vi cuộc hành quân rộng chỉ 1.500 km², nằm giữa 2 con sông Vàm Cỏ Đông ở về phía tây, sông Sài Gòn ở về phía đông, phía bắc là Campuchia. Vào thời điểm trên toàn bộ các cơ quan đầu não của TWCMN đang đứng chân ở đây. Kỳ vọng của người Mỹ hoàn toàn có lý nếu chỉ dựa trên sức mạnh quân sự. Thực tế hoàn toàn không như vậy, mục tiêu ban đầu của cuộc hành quân không đạt được sau 53 ngày đêm quyết đấu.

    Đầu tháng 12 năm 1967:
    Cuộc càn Hòn-Đá-Vàng thọc sâu vào trung tâm và hậu cứ của các cơ quan đầu não TWCMN. Trung tâm cuộc hành quân hình thành nên 2 căn cứ vững chắc: Thiện Ngôn và Cà Tum, nó thường xuyên uy hiếp vùng hậu cứ của TWCMN mãi đến những năm về sau. Thế trận của cuộc càn ngay từ đầu đã bao vây văn phòng TWCMN. Lúc này văn phòng TWCMN nằm trong đội hình của Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam (Biệt hiệu: B21, hòm thư: 86.200 YK), đóng ở mạn đông bắc Cà Tum.

    Để thoát ra khỏi vòng vây của cuộc càn, văn phòng TWCMN phải luồn vượt qua các chốt chặn của lính Mỹ dưới áp lực gầm rú của tiếng xe tăng và ánh sáng đèn pha sáng rực trong đêm. Từ mạn đông bắc Cà Tum, văn phòng TWCMN đến vùng Suối Đôi, Suối Chiếc, vượt lộ 13 đoạn gần biên giới Campuchia, vượt sông Măng vào sâu trong vùng đất phía bắc chiến khu Đ, nam Tây Nguyên. Cuối cuộc càn văn phòng TWCMN về lại vùng bắc Cà Tum, chỗ ở vừa ổn định thì cuộc tổng tấn công toàn miền Nam năm 1968 xảy ra.

    Ngày 4 tháng 1 năm 1968: Đoàn tải gạo của cơ quan Ủy Ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, trong đó có Huỳnh Lan Khanh, con gái của Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, vừa đến Trảng Dầu khu vực bờ đê (Bắc lộ 22, nam khu dân cư Chàng Riệt - Tây Ninh), thì chạm trán với toán biệt kích Mỹ từ Thiện Ngôn xuyên rừng ra
    .
    Huỳnh Lan Khanh bị bắt đưa lên máy bay ngay sau đó. Lực lượng bảo vệ căn cứ ứng cứu nhưng không kịp, một máy bay bị bắn rơi tại chỗ, Huỳnh Lan Khanh đã tông cửa máy bay khác rơi xuống Trảng Dầu. Năm hôm sau đồng đội tìm thấy chị và đưa về an táng với 2 đồng đội cùng hy sinh trong ngày hôm ấy (Nguyễn Chiến Thắng - Bến Tre, Lại Văn Giỏi - Quảng Ngãi) tại suối Chò, nơi mà giờ đây có khu di tích lịch sử của Ủy Ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

    Đầu tháng 11 năm 1968: Sư đoàn không vận số 1 Mỹ (Sư đoàn Kỵ Binh Bay) sau khi ứng cứu không thành công lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ tại Khe Sanh. Theo lệnh của đại tướng Creighton Abram (Thay đại tướng Westmoreland tháng 5 năm 1968) tháng 7 năm 1968 lính Mỹ tháo bỏ căn cứ Khe Sanh, đưa sư đoàn Kỵ Binh Bay về án ngữ ba tỉnh Phước Long-Bình Long-Tây Ninh, để thực hiện chiến lược "Quét và Giữ". Chiến trường Đông Nam Bộ càng nóng bỏng hơn bao giờ hết, máy bay Mỹ hàng ngày rà lết trên từng đọt cây, các tay xạ thủ súng máy dòm ngó như không chỗ nào bị bỏ sót, có nghi vấn là bóp cò không tiếc đạn. Trong đợt này C12(Cơ yếu) bị tấn công làm nhiều người bị thương.

    Ngày 20 tháng 3 năm 1969: Sau nhiều ngày bắn phá và đổ quân thăm dò các khu vực vành đai căn cứ VP.TWCMN tại vùng "Rừng Le" nằm về hướng đông bắc Cà Tum, lực lượng biệt kích Mỹ do một đại tá tình báo chỉ huy đã đột nhập vào căn cứ trung tâm bằng trực thăng, điểm đổ bộ tại một Trảng trống nằm giữa Ban chỉ huy tiểu đoàn 1 bảo vệ (D1 - An ninh vũ trang) và trạm xá (C18), trung đội trinh sát của Sáu Nhiều-D1 kịp thời đánh trả, lực lượng bảo vệ C18 nổ súng khóa đuôi, làm cho toán biệt kích chạy loạn vào rừng và sau đó rút về căn cứ Cà Tum. Biết bị lộ, văn phòng TWCMN di chuyển về căn cứ dự bị tại "Rừng Buôn" nằm sát biên giới, trên thượng nguồn sông Sài Gòn (Vùng K9 - Binh trạm nam Trường Sơn).

    Ít hôm sau, căn cứ chưa kịp rút hết, lực lượng pháo đài bay B-52 tập kích thẳng vào căn cứ, từ 1 giờ 15 phút sáng đến trưa hôm sau có gần 40 đợt ném bom (Mỗi đợt 3 chiếc). Căn cứ hư hại nhiều, trong đó nhà và hầm của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ bị sập đổ.

    Ngày 1 tháng 5 năm 1970 cuộc hành quân hỗn hợp Việt-Mỹ tấn công vào vùng Móc Câu. Chính tổng thống Mỹ cùng với Kissinger, Bill Rogers, Med Laird (thay Mc Namara), Earle Wheeler, có sự phối hợp với Ellsworth Bunker và Creighto Abram ở Việt Nam, hình thành nên kế hoạch tấn công đầy bí mật đối với chính trường Mỹ và đối phương.

    Khi công luận Mỹ ầm lên vì cuộc tấn công Mỏ Vẹt vào ngày 29 tháng 4 năm 1970, chiều 30 tháng 4 năm 1970 tổng thống Mỹ Richard Nixon lên truyền hình tuyên bố "Tôi muốn tiêu diệt những nơi ẩn giấu ấy. Hãy xây dựng các kế hoạch và tiến lên. Nghiền nát chúng để chúng không bao giờ có thể dùng những nơi ấy để chống lại chúng ta nữa. Không bao giờ". Phần cuối bài diễn văn, tổng thống không quên hứa hẹn với người dân Mỹ rằng hòa bình đang nằm trong tầm tay chúng ta, và thông báo sẽ có cuộc hành quân Việt-Mỹ vào vùng Móc Câu. Mục tiêu của cuộc hành quân vào Móc Câu là vây bắt hoặc tiêu diệt TWCMN và Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam đang đóng tại đây (cách Sài Gòn 80 km về hướng Bắc, nơi mà Campuchia giáp với Tây Ninh-Bình Long).

    Người Mỹ đã hậu thuẩn cho Thống chế Lon Nol (Campuchia) đảo chính Quốc trưởng Norodom Sihanouk vào ngày 18 tháng 3 năm 1970, nhân chuyến đi thăm Moskva vào ngày 13 tháng 3 năm 1970 (thứ sáu) của Quốc trưởng. Cuộc đảo chính nhằm khóa đường tiếp tế từ cảng Sihanoukville và không cho cộng sản Việt Nam ẩn náu dọc biên giới như thời Norodom Sihanouk lãnh đạo đất nước. Tiền đề đó là gọng kiềm thứ nhất, gọng kiềm thứ hai là cuộc hành quân vây bắt mà Tổng thống Mỷ trực tiếp chỉ đạo.

    Lực lượng thám kích luôn được thả bằng trực thăng CH-53 vào khu căn cứ TWCMN, do kinh nghiệm, hai ngày sau cuộc đảo chính (20 tháng 3 năm 1970), văn phòng TWCMN và Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam rời khỏi căn cứ trên, có để lại lực lượng nghi binh và bảo vệ. Từ vùng biên giới đông bắc về vùng biên giới tây bắc thị xã Tây Ninh, văn phòng TWCMN đóng quân tạm trên vùng căn cứ cũ Chàng Riệt. Được vài hôm, đơn vị có kẻ đầu hàng ở Cà Tum, lại tiếp tục hành quân về vùng Tầm Phô-Tà Nốt (phía Bắc Bến Ra), đây là căn cứ của Ban An ninh TWCMN.

    Sau khi dưỡng sức và chuẩn bị về hậu cần, đêm 7 tháng 4 năm 1970, đơn vị vượt Quốc lộ 7 Campuchia, đoạn Phum Đa (Khum Dar) giữa Karết (Phumi Krek) đi Mimốt (Memot). Lực lượng hùng hậu qua lộ 7 khi đơn vị đồn trú của Lon Nol tại đây còn bất động chưa biết ứng xử ra sao, chỉ đứng nhìn. khoảng 10 ngày sau đó cả vùng đông bắc Campuchia được hoàn toàn giải phóng. Tổng thống Mỹ dù rất chu đáo trong kế hoạch hành quân và giữ bí mật cho đến phút cuối, vậy mà "Chộp hụt" cơ quan đầu não Cách mạng miền Nam và bị lỡ đà lao vào cuộc chiến tranh mở rộng ra toàn cỏi Đông Dương.

    Tại Đồi 181 (Phum Memay), sau nửa tháng dừng chân, VP.TWCMN tiếp tục vượt rừng Cao su đi về hướng Bắc, cuộc hành quân khởi hành lúc 6 giờ tối, đến 10 giờ đêm B52 tập kích, ngọn đồi bị san bằng. Bộ phận thông tin vô tuyến điện (C25, C31) do phải đi sau nên thiệt hại nặng nề. Tiếp tục là những trận oanh kích của B52 trên toàn tuyến lộ 7, sau đó bộ binh và xe tăng Mỹ hàn kín đoạn đường này, công cuộc truy bắt TWCMN và Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam được bắt đầu.

    Ngày 18 tháng 1 năm 1971: Tổng thống Richard Nixon họp với Kissnger,Med Laird,Bill Rogers,Helms,Đại tá Alexander Haig trợ lý của Kissinger, cùng với Đô đốc Thomas H.Moorer (thay Earle Wheeler). Cuộc họp đi đến quyết định mở rộng các cuộc hành quân trên toàn cỏi Đông dương, nhằm tiếp tục cắt đứt đường tiếp tế từ Bắc vào Nam qua ngã Lào, truy quyét TWCMN và tiếp tục làm thay đổi cục diện chiến tranh, biến học thuyết của Nixon thành hiện thực là thay màu da trên xác chết.

    Năm 1971 trở thành năm quyết định cho chiến cuộc Đông dương. Quân đội Nam Việt Nam mở 2 cuộc hành quân lớn, với cuộc hành quân (Toàn Thắng 1.71) vào Đông Bắc Campuchia, do Đỗ Cao Trí chỉ huy. khi cánh quân đầu tiên vào đến nam Sa-lông (Chhlong), tỉnh Campong Cham, thì tướng Đỗ Cao Trí thiệt mạng do rơi máy bay, cuộc hành quân chùng lại, lập tức bị Quân giải phóng phản công mạnh mẽ, buộc tháo chạy về đến nam Đầm Be (Dambe), bị khóa đuôi và thiệt hại nặng tại đây, cuộc hành quân (Toàn Thắng 1.71) kết thúc.

    Ngày 8 tháng 2 năm 1971 Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã đưa quân sang Lào với sự yểm trợ hùng hậu của phi pháo Mỹ, mục tiêu chiếm giữ là đường số 9 và điểm trọng yếu là chiếm Sê-Pôn, một địa danh thơ mộng nằm trên bờ sông Mê Kông, nhằm cắt đứt Đường Trường Sơn. sau những ngày đầu tiến quân ào ạt không gặp kháng cự, nhưng khi đoàn quân vừa đổ xuống Bản Đông, pháo cao xạ quân giải phóng bắt đầu đan lưới và làm chủ trên bầu trời, những ngày sau đó không còn đủ máy bay tiếp tế, tải thương, quân lính bắt đầu hoang mang hổn loạn. Khi sự đói khát, thiếu thốn và lo sợ lên đến tột cùng, pháo binh quân giải phóng dội bão lửa lên các cứ điểm tạm thời bị chiếm đóng, rồi xe tăng lần theo vết xích cũ chiếm lại các trận địa, như ngày nào họ tập trận. Đại tá Thọ và bộ chỉ huy của Lữ đoàn dù số 3 buộc phải đầu hàng nhanh chóng trước các chiến sĩ xe tăng quân giải phóng trong tình huống như vậy.

    Ngày 18 tháng 3 năm 1970, đúng 60 ngày sau khi chiến dịch Lam Sơn 719 bắt đầu, tướng Hoàng Xuân Lãm cùng với Bộ chỉ huy tiền phương của mình tháo chạy khỏi căn cứ Tà Cơn, nơi đặt Đại bản doanh chiến dịch, dưới tầm mưa pháo của đối phương.

    Trung ương Cục miền Nam, sau bao thăng trầm trong cuộc chiến, cuối cùng vẫn bảo toàn được lực lượng, giữ vững vai trò lãnh đạo cách mạng miền Nam.

  2.  
    Căn cứ cuối cùng trở thành Khu di tích lịch sử TWCMN




    Trung ương Cục miền Nam về nước ngày 4 tháng 2 năm 1973, Văn phòng vừa ổn định chỗ ăn ở cho các lãnh đạo TWCMN, hai bộ phận gồm C15 và C16 tiếp tục chuẩn bị căn cứ mới để di dời, kỳ này chỗ ăn ở mới thoáng mát hơn, do chính các lãnh đạo TWCMN chọn lựa.

    C15 (Khối Văn phòng ), đứng chân trên phum cũ của đồng bào dân tộc thiểu số (Phumi Romduol), ở đây có nhiều cây ăn trái như xoài, me, khế, chuối. Khu vực xung quanh có nhiều Trảng trống, gió mát. Các loại cây rừng ăn trái gồm có dâu, trường, sấu, sổ, đặc biệt có nhiều trái cơm nguội (trái rùm đuôn).

    C16 (Khối nghiên cứu-thống kê tổng hợp), do phải kề cận TWCMN, nên khối này di chuyển theo, lúc đầu ở trên trục Lộ ủi, cách khu di tích hiện nay khoảng 1 km về hướng Nam. Ngày xây dựng căn cứ là ngày 8 tháng 3 năm 1973, tức hơn một tháng sau khi về đất Việt Nam. Đến năm 1974, do yêu cầu của chiến trường, công việc ngày càng hối hả hơn, các cuộc họp thường xuyên hơn, việc đi lại giữa C16 và C15 trở nên xa cách và cực nhọc hơn, nên TWCMN quyết định nhập C16 vào C15, từ đó khối Văn phòng bao gồm cả C15 và C16 và tập trung trên khu vực Romduol. Nơi này giờ đây là Khu di tích lịch sử Trung ương Cục miền Nam.

    Tiến về Sài Gòn năm 1975

    Vào thời điểm giải phóng Sài Gòn, TWCMN di chuyển làm 3 hướng chính:

    Hướng chủ công: Ngày 9 tháng 4 năm 1975 tại Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam đóng về phía Tây thị trấn Lộc Ninh, có cuộc họp quan trọng gồm các cán bộ chủ chốt và Ban ngành của TWCMN, Bộ tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, Đoàn A75 (Bộ chỉ huy tiền phương của Bộ Tổng tư lệnh do Đại Tướng Văn Tiến Dũng dẫn đầu), Đại diện Bộ chính trị Lê Đức Thọ đi thẳng từ Hà Nội vào dự hội nghị. Tại hội nghị này Lê Đức Thọ công bố quyết định thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định:

    Tư lệnh: Đại tướng Văn Tiến Dũng, các Phó Tư lệnh gồm Trần Văn Trà, Lê Đức Anh, Đinh Đức Thiện.
    Chính ủy: Phạm Hùng.
    Tham mưu trưởng: Lê Ngọc Hiền (Đoàn A75).

    Đến ngày 14 tháng 4 năm 1975 Bộ chỉ huy chiến dịch đổi tên thành: Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh.
    Ngày 22 tháng 4 năm 1975 Bộ chỉ huy chiến dịch được bổ sung thêm Lê Trọng Tấn làm phó Tư lệnh, Lê Quang Hòa làm Phó Chính ủy.

    Để bảo đảm cho Phạm Hùng vừa thực hiện tốt đồng thời 2 nhiệm vụ: Bí thư TWCMN và Chính ủy chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định (Sau là chiến dịch Hồ Chí Minh). Văn phòng TWCMN cử Nguyễn Hồng Châu(Tư Châu nhỏ) đưa một phần lực lượng bảo vệ của D1, cùng với ê kíp phục vụ trực tiếp theo sát Phạm Hùng trong suốt chiến dịch, về chuyên môn thì Bảy Nê(Trưởng phòng thông tin) đưa theo một xe thông tin công suất 150W cùng đội ngũ tay nghề giỏi để phục vụ thủ trưởng. Bộ phận cơ yếu phục vụ cho Phạm Hùng do Quân ủy Miền đảm nhiệm.

    Toàn bộ lực lượng bảo vệ và phục vụ Phạm Hùng trong Bộ chỉ huy chiến dich Hồ Chí Minh cùng tiến về Sài Gòn theo Bộ chỉ huy của chiến dịch vào chiều ngày 1 tháng 5 năm 1975. Điểm xuất phát là khu vực Ván Tám nằm ở phía Nam Cầu Xe, Tây nam [Chơn Thành], phía Bắc thị trấn Bến Cát (Bộ chỉ huy dời về đây hôm 26 tháng 4 năm 1975, nằm sau lưng Bộ chỉ huy Quân đoàn 3 do Thiếu tướng Vũ Lăng làm Tư lệnh), hướng hành quân về Sài Gòn là vượt rừng Cau su Dầu Tiếng, đến Bến Củi qua Trảng Bàng theo Quốc lộ 22 tiến vào Trung tâm thành phố, điểm dừng chân đầu tiên tại Sài Gòn là trại David nơi có trụ sở Ban liên hợp Quân sự bốn bên.

    Bộ phận tiếp quản Thành phố Sài Gòn: Ngày 12 tháng 4 năm 1975, tại Xa Mát, Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Bộ phận tiếp quản Thành phố Sài Gòn gồm đông đảo cán bộ chiến sĩ của các Ban ngành TWCMN, các lực lượng của khu Sài gòn cùng phối hợp, nằm dưới sự chỉ huy thống nhất của Võ Văn Kiệt và Mai Chí Thọ, đã làm lễ xuất quân một cách trọng thể. Hướng hành quân cụ thể như sau: Từ Xa Mát (Tây Ninh) xuống Ba Thu (Svay Riêng, Campuchia), qua Đức Huệ, Đức Hòa, vượt Vườn Thơm, đến ngày 27 tháng 4 năm 1975, Bộ phận chỉ huy của đoàn dừng chân tại xã Tân Nhựt, Huyện Bình Chánh, vùng ngoại ô Thành phố Sài Gòn. Sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố ngừng bắn chờ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vào để bàn giao, Bộ phận này đã dùng xe GMC tiếp thu được, xuất phát từ vùng kinh A (Tân Nhựt), theo trục lộ số 10 tiến vào Thành phố, đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, đoàn tiếp quản Thành phố Sài Gòn đặt Tổng hành dinh tại Trường Pétrus Ký (Lê Hồng Phong).

    Chiều ngày 1 tháng 5 năm 1975, Bộ Chính Trị Trung ương Đảng có sự thay đổi nhân sự, đưa Tướng Trần Văn Trà, vào làm Chủ tịch ủy Ban Quân quản Thành phố Sài Gòn, Tướng Trần Văn Trà từ Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh vào Thành phố nhận nhiệm vụ mới.

    Nguyễn Văn Linh về Thành phố: Bộ phận còn lại của TWCMN (Trừ Phạm Thái Bường mất năm 1973 do bị bệnh tại căn cứ), đóng tại căn cứ Romduol do Phó Bí thư TWCMN Nguyễn Văn Linh và Phan Văn Đáng chỉ huy, có nhiệm vụ chỉ đạo toàn chiến trường B2. Đặc biệt có phối hợp chặt chẻ với Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh, trong việc phát động quần chúng nổi dậy tại Thành phố Sài Gòn.

    Để bám sát phong trào nổi dậy của nhân dân Sài Gòn-Gia Định và giử khoảng cách gần gủi với Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh đang áp sát Thành phố, TWCMN cử các bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ và bảo vệ do tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Khi (Tư Châu lớn) và Nguyễn Chính Dũng dẫn đầu đi tiếp nhận căn cứ của Thành ủy Khu Sài Gòn - Gia Định, tại Thanh An (Gần ngã ba Bông Giấy) thuộc Dầu Tiếng, Tỉnh Thủ Dầu Một. Công việc xây dựng, tu sửa lại căn cứ tại đây tiến triển tốt, chuẩn bị khá chu đáo để đón VP.TWCMN dời về.

    Sau ngày 20 tháng 4 năm 1975, không khí chuẩn bị về Thanh An diễn ra khá náo nức. Tin vui chiến thắng tấp nập tràn về, các Quân đoàn chủ lực từ miền Bắc, miền Trung và Tây Nguyên vào chi viện cho mặt trận Sài Gòn đã đến các vị trí tập kết được chỉ định của mình, tư thế chiến thắng không còn đảo ngược được nữa. Lúc này TWCMN ra lịnh chậm cuộc hành quân về Thanh An, chờ diễn biến mới của chiến dịch giải phóng Sài Gòn.

    Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đoàn tiếp quản Thành phố (Võ Văn Kiệt) vào đến Pétrus Ký. TWCMN Yêu cầu cho một chuyến xe thông đường từ Sài Gòn về căn cứ Romduol. Trưa ngày 1 tháng 5 năm 1975, xe thông đường về đến căn cứ, lệnh hành quân được phát ra ngay chiều hôm đó.

    Đoàn xe Trung ương Cục miền Nam rời căn cứ lúc 8 giờ sáng theo lộ ủi ra Quốc lộ 22, qua Tây Ninh về Thành phố Sài Gòn, vào Trại David tham dự cuộc hội ngộ của các Tư lệnh chiến trường sau 30 năm mong đợi, lúc đó là 14 giờ ngày 2 tháng 5 năm 1975.

Nick: clbniemtinviet
CN CLB: Mr Trí
DĐ: 0902 966 919
Email: clbniemtinviet@gmail.com
Tạm trú: CLB HDV DL Niềm Tin Việt - VCT
Chức năng: Cung cấp lực lượng HDV DL cho các Công ty du lịch
Đáp ứng: Nội địa, inbound, outbound - Anh, Pháp, Nhật, Hàn, Hoa...
Thực hiện: Quản trò, Lửa trại, Galadinner, Game, TeamBuilding...
Mục tiêu: Cho đi để rồi nhận lại!!!