Thứ Ba, 8 tháng 7, 2014

Bài thuyết minh tỉnh Khánh Hoà

  1. Bài thuyết minh tỉnh Khánh Hoà


    Thuyết minh tỉnh Khánh Hoà

    Đây là một bài vừa dẫn khách vừa thuyết minh của một HDV DL nào đó tôi đọc thấy có nhiều nội dung rất hay nên post lên cho các Member làm HDV Du lịch cùng xem chắc lọc cùng học tập để bổ xung cho bài thuyết minh của mình được tốt hơn trong mỗi chuyến tour, nội dung nào chưa chính xác thì cùng góp ý để sửa đổi bổ xung nhé


    TỈNH KHÁNH HOÀ

    Có diện tích là 5257 ha với dân số gần 2 triệu người, phía bắc giáp Phú Yên, phía tây giáp Đăclăk, nam giáp Ninh Thuận, phía đông giáp biển đông. Thủ phủ của Khánh Hòa là thành phố Nha Trang, các huyện: Vạn Ninh, Ninh Hòa, Diên Khánh, Khánh Vinh, Khánh Sơn, Cam Ranh và huyện đảo Trường Sa. Khánh Hòa có 2 con sông lớn đó là sông Cái và sông Đinh. Khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa mưa từ tháng 9 tới tháng 12, lượng mưa trung bình là từ 1030mm/năm, nhiệt độ trung bình năm khoảng 27độC. Ngoài diện tích đất liền Khánh Hòa có gần 200 đảo lớn nhỏ, trong đó chỉ tính riêng quần đảo Trường Sa đã có trên 100 đảo. Vùng lãnh hải rộng 18.000 ha. Khánh Hòa có địa hình đa dạng, nhiều núi cao đồng rộng sông dài, nhiều đảo lớn đông dân. Thiên nhiên ưu đãi cho Khánh Hòa có một địa thế vô giá. Khánh hòa còn có mỏ đá vàng ở Đá Bàn – Xuân Sơn, Vĩnh Lương từ 2 – 6gam/ tấn. Kim loại có sất, ti tan, thiếc … hiện nay toàn tỉnh Khánh Hòa có nhiều trường đại học, cao đẳng, 12 trường cấp 3 … ngoài ra còn nhiều viện nghiên cứu khoa học như viện nghiên cứu Pasteur thành lập từ năm 1895, viện Yersin, viện Hải Dương Học thành lập năm 1932.

    Khánh Hòa là tỉnh có thế mạnh khai thác hải sản, khoảng 65.000 tấn/ năm. Có khoảng 1000ha ruộng nuôi tôm. Trên những hòn đảo ven biển như Cà Lò, Hòn Hố, Hòn Động, hòn Sương, hòn Nội, hòn Ngoại … còn có chim yến trú ngụ có thể khai thác tổ yến.. đây là hải sản có giá trị xuất khẩu cao trữ lượng hàng năm lên tới 2000 – 2500 kg, trong đó 1kg tổ yến bán được khoảng 3000 – 3500 USD. Nghề muối cũng phát triển ở Khánh Hòa. Ngoài ra Khánh Hòa còn có nguồn nước khoáng vô tận, các suối nước nóng ở Phước Long, Đảnh Thạnh, Ninh Hòa … , nông, lâm, thủy sản chiếm khoảng 70% diện tích đất tự nhiên. Khánh Hòa có tiềm năng lớn về du lịch. Với bờ biển dài 200km, nhiều bãi tắm đẹp, nơi có thể phát triển nhiều loại hình du lịch như nghỉ dưỡng, săn bắt, bơi lội leo núi, tắm biển … ngoài ra còn thu hút khách du lịch nhờ những đểm tham quan và các di tích lịch sử, di tích văn hóa như : tháp bà Pônaga, chùa Long Sơn, lăng bà Vú, nhà nghỉ vua Bảo Đại, hòn Chồng, hòn Yến, hồ cá Trí Nguyên, bãi Trũ, suối Tiên, Đại Lãnh và vô số các đảo nhỏ ven bờ.

    Vịnh Cam Ranh

    Là một vịnh nhỏ ở cực Nam của tỉnh Khánh Hòa. Vịnh được xếp là 1 trong 3 hải cảng thiên nhiên tốt nhất thế giới cùng với cảng San Francisco và Rio De Janeiro. Vịnh có diện tích khoảng 185 km2, độ sâu phổ biến từ 5 – 10 m, phía ngoài có độ sâu khoảng 20 m, ra khỏi cửa vịnh tiếp cận với đường đẳng sâu 40 m.

    Vịnh Cam Ranh là một trong những vịnh đặc biệt quan trọng. Ngày Pháp xâm chiếm VN, người Pháp cũng đã dự kiến phát triển vịnh Cam Ranh thành cảng để khách du lịch từ bên Pháp khi về qua Việt Nam qua Đông Dương cập bến ở đây và họ sẽ đi lên trên xe lửa để đi lên Phan Rang và đến Dalat nghỉ mát, nhưng kế hoạch của họ không được hoàn hảo cho nên đã không hoàn thành được. Sau đó người Pháp đã rời khỏi Việt Nam và biến vịnh thành cảng quân sự. Sau năm 1975 chúng ta tiếp quản và đến năm 1978 giao cho Liên Xô thuê khu cảng làm cảng quân sự với thời gian là 25 năm, sau này Liên Xô tan rã đến năm 2003 trở thành khu căn cứ của chúng ta hiện nay. Năm 2009 trỡ thành cảng Quân sự và kinh tế.

    Cam Ranh là một trong những lý do dẫn đến cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung. Ngày nay người ta đã đúc kết được 4 lý do dẫn đến cuộc chiến tranh này là vào thời điểm năm 1979 người Trung Quốc đã đưa quân sang chúng ta với lý do thứ 1 là chúng ta đã trục xuất người Hoa ra khỏi Việt Nam, lý do thứ 2 là chúng ta đã đưa quân sang đánh Campuchia, sau khi chúng ta diệt được Khơme đỏ thay vì chúng ta về lại tiếp tục ở Campuchia điều này đã làm phật ý Trung Quốc vì Trung Quốc là người bạn thân thiết của Campuchia, lý do thứ 3 là vấn đề quần đảo Hoàng Sa, thứ 4 là vịnh Cam Ranh vì sau đó mình đâu để cho Trung Quốc mà nhường lại cho Liên Xô.

    Trong chiến tranh Việt Nam 1 trong những quốc gia đã giúp cho chúng ta rất nhiều là Liên Xô và Trung Quốc, Liên Xô giúp vũ khí hạng nặng còn Trung Quốc nhẹ như quần áo, vật dụng, súng đạn … Trong thời điểm đó Liên Xô và Trung Quốc có mối quan hệ mâu thuẫn tại biên giới Nga-Trung.

    Vịnh Cam Ranh là một vịnh khá kín, dân cư sống chủ yếu bằng nghề nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản, tiểu thủ công nghiệp. Diện tích vùng vịnh kín là 60 km2 và độ sâu trung bình từ 18 – 20 m, xung quanh có núi bao bọc nên vùng biển luôn kín gió. Với diện tích đó vịnh Cam Ranh cho phép nhiều tàu bè cập bến cùng một lúc. Trước năm 1975, Mỹ huấn luyện cá heo để tuần du. Năm 2009 vịnh Cam Ranh chia làm hai khu vực chính trị và kinh tế. Vịnh Cam Ranh còn là nơi để du khách có thể đến ngắm cảnh hay đi bộ trên những đồi cát trắng mịn.

    Ở khu vực Khánh Hoà có 1 thung lũng nằm bên tay trái bên dãy Hoàng Sơn gọi là thung lũng Ôkha, ngày xưa đường bay hàng không Việt Nam bay ngang thung lũng này và chỗ đó đã tạo ra gió xoáy gây ra tai nạn máy bay nên sau này người ta mới cho đi vòng ra bờ biển không đi ngang Ôkha nữa.

    Những bãi cát ở Khánh Hòa rất đặc biệt khi người ta đào sâu xuống sẽ có nước ngọt cho nên dân địa phương ở đây đi biển xong người ta vô đào cát lấy nước ngọt ở dưới.

    Cam Ranh là 1 trong những nơi có cát rất trắng dùng trong công nghệ kỹ thuật cao như tạo ra những con chíp trong máy vi tính …đặc biệt hiện nay loại dẫn điện tốt nhất làm bằng sợi thủy tinh từ cát mà ra, tên cát hiện nay nổi tiếng ở Việt Nam là Ý Lan.

    Xoài Cam Ranh

    Đây là khu vực trồng xoài nhiều nhất nước chúng ta, diện tích hiện nay khoảng 4.500ha. Xoài trồng ở đây chất lượng không ngon như xoài miền Tây, giống xoài chủ yếu ở đây là giống xoài Thanh Ca, xoài hôi, xoài mủ…. Vì giá trị không cao nhưng rất hợp với khí hậu Cam Ranh: đất cát, độ PH thấp, gió lớn. Xoài Cam Ranh chủ yếu dùng để ăn sống kèm với các món gỏi, còn chín được sử dụng làm bánh tráng xoài – một đặc sản của Khánh Hòa.

    Sân bay Cam Ranh

    Nằm ở trung tâm bán đảo Cam Ranh, cách thành phố Nha Trang 30 km về phía Nam, sân bay Cam Ranh là một trong số ít sân bay có đường băng lớn và dài nhất nước ta hiện nay, có khả năng tiếp nhận các loại máy bay hiện đại cỡ lớn. Để có được chuyến bay ngày hôm nay – chuyến bay khai trương khai thác thương mại tại cảng Hàng Không Cam Ranh, cụm cảng hàng không miền Trung đã đầu tư hơn 40 tỷ đồng để đưa vào sử dụng khai thác các công trình: hệ thống đường cất hạ cánh, đường lăn, sân đỗ máy bay …

    Thành cổ Diên Khánh

    Từ thành phố Nha Trang theo quốc lộ 1 về phía Tây chừng 10 km, nhìn bên phải bạn sẽ bắt gặp một dãy tường thành đó là thành cổ Diên Khánh .

    Năm 1793, sau khi Nguyễn Huệ mất, nhân lúc nhà Tây Sơn suy yếu, Nguyễn Ánh cùng Võ Tánh, Nguyễn Văn Trương đem quân đánh Diên Khánh. Thấy nơi đây là một địa bàn quan trọng, Nguyễn Ánh quyết định xây dựng một vành đai phòng ngự kiên cố và Diên Khánh trở thành một căn cứ vững chắc. Thành Diên Khánh ra đời từ đó.

    Thành xây dựng theo kiểu Vauban – tên một kỹ sư quân sự Pháp từ năm 1663 – 1707. Thành chiếm diện tích 36.000m2 tường thành hình lục giác sáu cạnh không đều nhau, dài 2.693m, cao 3,5m đắp bằng đất có sáu cửa, hiện nay chỉ còn lại 4 cửa: Đông Tây – Tiền Hậu. Mỗi góc có một pháo đài cao 2m có đặt súng đại bác, ngoài thành có hào sâu 3 – 5m, rộng từ 15 – 40m. Cổng thành được xây dựng bằng gạch nung kiểu vòm, cổng được làm bằng gỗ lim. Hiện nay chỉ còn cửa Đông Tây khá nguyên vẹn.

    Vào năm 1885 – 1886 Thành Diên Khánh từng là Tổng hành dinh của nghĩa quân Cần Vương do Trịnh Phong làm chỉ huy và cách mạng tháng 8 vào năm 1945. Hiện nay, Thành Diên Khánh được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử.

    Bài thuyết minh tỉnh Khánh Hòa - Thành Phố Nha Trang
  2. Thành Phố Nha Trang

    “Đẹp thay non nước Nha Trang
    Người đi hồn vẫn mơ màng nơi đâu”.
    ( Sóng Hồng)

    “Sao giờ anh mới tới Nha Trang
    Thoáng gặp đã xa quá vội vàng
    Để sóng ngày đêm còn nhắc mãi
    Bao giớ anh lại ghé Nha Trang?”
    ( Nguyễn Gia Nùng)

    Nha Trang – thành phố bên bờ biển xanh, “ chiếc boong tàu đầy nắng”, “ lẵng hoa tươi đẹp đặt trên bờ biển đông” … là trung tâm kinh tế văn hóa, du lịch … được xem là tốt nhất nước. Cách thủ đô Hà Nội 1.278km, thành phố Hồ Chí Minh 450km – Nha Trang nằm trong vị trí rất thuận lợi về giao thông – liên lạc. Một đầu mối giao thông lớn và trọng điểm của cả nước, với đầy đủ các yếu tố tự nhiên thuận lợi, đảm bảo cho sự xây dựng một nền kinh tế – văn hóa hoàn chỉnh, tạo điều kiện tốt nhất cho những chuyến viếng thăm của khách trong và ngoài nước.

    Thành phố Nha Trang nằm gọn trong một thung lũng trước núi và ven biển. Bắc và nam được giới hạn bởi những dãy núi cao, với những đỉnh cao đạt từ 700 – 900m. Thành phố trải dài dọc theo bờ biển, trước mặt là biển đông mênh mông, với 19 hòn đảo lớn nhỏ nằm rải rác xa gần, trong đó có đảo hòn Tre đứng sừng sững – một yếu tố góp phần tạo dựng một khí hậu tuyệt vời cho Nha Trang. Phía tây thành phố là tuyến QL1 nối Nha Trang với thành Diên Khánh – một vùng đồng bằng trước núi với diện tích không lớn song cực kỳ trù phú của Khánh Hòa. Nơi cung cấp trái cây, rau quả và hoa cho thành phố Nha Trang. Các điều kiện tự nhiên góp phần tạo dựng một cách cũng rất tự nhiên cho Nha Trang một khung cảnh trời mây non nước kỳ thú, với một điều kiện khí hậu tuyệt vời, hiếm thấy ở một nơi nào khác.

    Nha Trang có diện tích tự nhiên là 238 ha với dân số là 436.500 người, mật độ là 230 người / km2. Chỉ sau 25 năm giải phóng, diện tích thành phố đã tăng lên gấp 3 lần và dân số tăng lên gấp 4 lần. Nha Trang có chế độ khí hậu cận xích đạo gió mùa, khô ráo và có trên 300 ngày nắng trong năm, đồng thời chịu ảnh hưởng trực tiếp của hai dòng hải lưu nóng – lạnh không xa ngoài khơi – một yếu tố ảnh hưởng lớn tới biển Nha Trang. Cùng vĩ độ với Nha Trang nằm ở ngoài khơi Thái Bình Dương là trung tâm xuất phát bão, vậy mà hình như bão không bao giờ ảnh hưởng tới vùng viển Nha Trang. Từ đầu thế kỷ tới nay người ta mới chứng kiến ở Nha Trang có 3 lần có gió lớn ở cấp 7, cấp 8 (1912, 1956, 1988).

    Ở Nha Trang không thấy biểu hiện rõ rệt 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông. Thời tiết quanh năm mát mẻ, không lạnh quá cũng không nóng quá như những vùng khác ở Việt Nam. Ngay cả những ngày nóng nhất thời tiết Nha Trang vẫn có những ngày ôn hòa, không oi nồng và thường từ 4h chiều trở đi sẽ đột ngột trở nên dịu hẳn, trời đất trở nên mát mẻ dễ chịu do có gió nồm đông nam thổi vào. Cũng vào những ngày nắng, nóng nhất nhưng nửa đêm về sáng người dân Nha Trang cũng thường dùng một tấm chăn mỏng đắp ngang người để ngủ, trái lại vào những ngày lạnh nhất ở Nha Trang, du khách cũng có thể thấy những nam thanh nữ tú mặc áo ngắn tay dạo phố.

    Có lẽ rõ nét hơn cả về chế dọ khí hậu ở Nha Trang là sự phân biệt khí hậu hai mùa mưa và khô. Mùa mưa ở Nha Trang kéo dài từ tháng 9 tới tháng 12, tập trung gần như toàn bộ lượng mưa trong năm với 1.500mm. Mưa ở Nha Trang thường không kéo dài, với những ngày mưa của mùa mưa du khách vẫn có thể gặp những ngày hoàn toàn nắng ráo, trời trong xanh, mây trắng như vào giữa mùa khô. Mùa khô kéo dài suốt 6 tháng đầu năm. Mùa này trời luôn trong xanh, biển lặng, rất ít khi có mưa, độ ẩm thấp – 80% trung bình năm, rất thích hợp cho du khách Tây phương. Thỉnh thoảng du khách có thể gặp những cơn mưa đột ngột và ngắn, sau đó thời tiết đột ngột dịu hẳn đi và cảm thấy dễ chịu và sảng khoái.

    Cù Nha Trang là tên gọi con sông Ngọc Hội hay sông Cù, tên Nha Trang la do tiếng thổ âm của người Chàm là Eatang hay Jảtang đọc trại ra mà thành. Ea hay Ja là dòng sông, trang là lau, sậy. Gọi như vậy là do ngày xưa dọc hai bờ sông Nha Trang lau, sậy mọc um tùm, hoa bông lau nở trắng xóa một vùng. Dân Nha Trang thường truyền tụng câu thơ cổ vịnh Nha Trang :

    “ Lưỡng ngạn vi lô trường đảo hài
    Tú biên hoàng diệp lục vi thu”

    Dịch là :
    “ Trắng dợp đôi bờ lau tới biển
    Vàng lay bốn phía lá gieo thu”

    Tên Nha Trang chính thức được sử dụng khi người Việt đặt chủ quyền của mình trên mảnh đất này vào năm 1653. Hơn 3 thế kỷ, trải qua nhiều biến động của lịch sử, ban đầu chỉ là tục danh về sau trở thành địa danh hành chính. Cái tên Nha Trang vẫn tồn tại như một cái tên truyền thống cho đến tận ngày nay.

    Còn có một giả thuyết nữa về tên gọi thành phố Nha Trang. Vào đầu thế kỷ này ở Nha Trang còn bao gồm toàn nhà tranh, vách đất. Duy nhất chỉ có nhà bác sĩ Yersin là xây bằng gạch, mái ngói đỏ tươi, tường quét vôi trắng. Một hôm có chiếc tàu buôn nước ngoài ngang qua cửa biển Cù Huân ( cửa lớn Nha Trang ) thì viên chỉ huy hỏi “ Đây là chữ gì?” nhưng người thông ngôn không hiểu ý lại chỉ vào ngôi nhà trắng của bác sĩ Yersin và trả lời “ Đây là nhà trắng” viên chỉ huy liền ghi ngay vào bản đồ, do tiếng nước ngoài không có dấu nên chữ “ Nhà trắng” đã bị đọc thành “Nha Trang” vô tình về sau trở thành cái tên của thành phố, có lẽ đây chỉ là câu chuyện kể cho vui mà thôi.
    Nha Trang có nhiều điển tích lạ và hay, người xưa gọi “ Tứ Thủy Triều Quy, Tứ Thú Tụ” đó là 4 mặt có nước bao bọc còn “ Thú Tụ” là hình ảnh tượng trưng cho 4 quả núi hội tụ lại đã giữ gìn anh khí, cảnh sắc, tạo nên một vùng khí hậu tuyệt vời cho thành phố. Bốn quả núi đó là :

    Núi Cảnh Long ở Chụt là Con Rồng, vì núi chạy dài từ Cửa Bé ra Cầu Đá dọc theo mé biển và đến Cầu Đá núi lại chạy thẳng ra biển, nên gọi là “Thanh Long hý thủy” (Rồng xanh giỡn nước).

    Hòn Sinh Trung ở Hà Ra là Con Voi, vì núi đứng cạnh đầm Xương Huân nên gọi là “Bạch Tượng quyện hồ” (Voi trắng quậy hồ).

    Hòn Trại Thủy là Con Dơi, vì trước núi, tại đầu dơi có một bàu nước hình tròn như mặt trăng nên gọi là “Ngọc Bức hàm hoàn” (Dơi ngọc ngậm vòng).

    Hòn Hoa Sơn, tục gọi là Núi Một ở phía Tây Nha Trang là Con Rùa, vì trên núi có ngọn cổ tháp nên gọi là “Kim Quy đối tháp” (Rùa vàng đội tháp).

    Bốn núi này là bốn thắng cảnh ở Nha Trang mà du khách đến đây không thể không một lần ghé thăm. Từ vị trí của quần thể tháp Pônaga, từ trên lầu chuông của nhà thờ Chánh Tòa ( nhà thờ Đá ), hay từ nơi tọa chủ Thích ca Phật Đài, du khách có thể phóng tầm mắt ngắm toàn cảnh thành phố Nha Trang. Xa xa là biển xanh mênh mông, du dương, lâng lâng, nhịp nhàng theo làn điệu ngàn đời của sóng, gần hơn dưới chân du khách là những dãy phố chia dọc ô bàn cờ, bên cạnh những thảm dừa xanh biếc, hàng hàng, lớp lớp, soi mình nghiêng bóng xuống sông nước Nha Trang. Nếu từ tháp Bà hay từ cầu Xóm Bóng nhìn ra, du khách không thể không “Ồ” lên kinh ngạc và thích thú khi nhìn toàn cảnh xóm Bóng – bến cá Nha Trang đẹp như tranh vẽ với những lớp nhà cao thấp nhô xen nhau san sát trên bến dưới thuyền suốt ngày thuyền bè tấp nập ra vào trời mây, sông biển, núi non ở Nha Trang quy tụ, khăng khít bên nhau, gắn bó thủy chung như tình yêu trai gái trên bãi biển cù lao này.

    “Đứng giữa hòn Chồng trông sang hòn Yến
    Lên tháp Bà về viếng Sinh Trung
    Giang ơn cẩm tú chập trùng
    Đôi ta gắn bó thủy chung một lòng”.

    Tới Nha Trang nếu du khách chưa thưởng thức gió biển mặn mà, tắm táp vùng vẫy dưới nước biển trong xanh tinh khiết, phơi mình trên bãi cát trắng mịn màng dưới ánh nắng chan hòa của bình minh hay hoàng hôn dịu dàng để làn da, cơ thể, được lớp lớp sóng biển hay những làn gió nhẹ nhẹ vuốt ve, mơn trớn thì thực sự chưa biết tới Nha Trang. Bãi biển ở đây thật tuyệt vời, chạy dài tới 7km giống như một lưỡi liềm bằng bạc, cán ở nơi xóm Cồn, mũi chạy tận vùng núi Chụt ( cảng Cầu Đá ) khoảng giữa phình rộng, được sóng biển mài dũa, bồi đắp sáng choang dưới ánh nắng mặt trời. Đứng trước cảnh trời * biển Nha Trang ai không khỏi vướng tình nước mây như bài hát xưa đã truyền tụng.

    “ Bãi biển Nha Trang mịn màng trắng trẻo
    Nước trong leo lẻo gió mát trăng thanh
    Đêm đêm thơ thẩn một mình
    Đố sao không khỏi vướng tình nước mây”.

    Đúng vậy biển Nha Trang quyến rũ đến mê hồn, tựa như một thiếu nữ vốn đã “ dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên” nay lại được tô điểm thêm dáng vẻ bên ngoài lại càng lộng lẫy và hấp dẫn hơn. Chạy dài suốt bờ biển là đường Trần Phú, bên cạnh là những hàng dừa hay tập hợp những cây phi lao được cắt xén, tỉa cành tạo nhiều hình dáng lấp lánh và đẹp mắt. Lác đác đó đây còn tồn tại những cây phi lao hàng trăm năm tuổi với các kiểu: lọng, ô, chung, thú. Dưới hàng dừa và những hàng phi lao là những kiôt, quán gió – kiểu như quán gió Hồ Tây – Hà Nội, nơi bày bán đủ các loại nước, trái cây và nhiều đặc sản địa phương. Bên kia đường là những tòa biệt thự với nhiều kiểu kiến trúc tân ky khác nhau. Nằm vào những vị trí thuận lợi nhất cho sinh hoạt, vui chơi giải trí là những khách sạn khang trang của công ty du lịch Khánh Hòa như Thắng Lợi, Thống Nhất, Hải Yến, Viễn Đông, Sài Gòn – Nha Trang, Nha Trang logde luôn luôn đón tiếp du khách một cách nồng hậu và sẽ được thưởng thức những đặc sản ngon tươi nhất vừa mới được lấy lên từ dưới lòng biển.

    Du khách tới Nha Trang sẽ không tìm thấy những tòa nhà cao tầng như ở Tp. HCM hoa lệ, mà đa phần là những ngôi nhà 2, 3 hay 4 tầng lầu. Lối kiến trúc này cân xứng với những thành phố biển nhẹ nhàng, yên tĩnh, thanh bình. Những tòa biệt thự thường thấp thoáng ẩn hiện dưới bóng dừa xanh, hay dưới những hàng cảnh tạo dáng công phu và đầy tính nghệ thuật, hay bằng những giàn hoa phong lan đủ loại, đủ màu sắc, tỏa hương dìu dịu. Tất cả những tòa nhà đều toát lên một vẻ hài hòa, thanh thoát bởi những đường nét, hình ảnh nhẹ nhàng mà phóng khoáng. Cuộc sống của người dân Nha Trang cũng vậy không ồn ào, náo nức như những đô thị khác ở miền Nam, mà nó chứa đựng một nét độc đáo riêng, rất thú vị, bình dị, thanh tịnh, phù hợp với khung cảnh thành phố du lịch. Nha Trang từng là nơi cư trú, ẩn dật của nhiều sỹ phu, những nhà nho yêu nước “công không thành, danh không toại” muốn tránh sự đời đầy bon chen và bất công, có lẽ cái triết lý của Lão Tử đã ăn sâu vào tâm khảm của mỗi người dân Nha Trang nhiều đời. Người ta muốn về với thiên nhiên cẩm tú này, tuyệt hết cái nghĩ ngợi ham muốn, vứt bỏ những bon chen, đố kỵ của đời thường để sống cuộc sống thanh sạch, yên bình hơn, hòa mình, gần gũi với thiên nhiên hơn đúng như Bạch Vân cư sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng vịnh :

    “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
    Người khôn người đến chốn lao xao
    Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
    Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
    Rượu đến gốc cây ta sẽ nhấp
    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”.

    Có lẽ chỉ thế “địa lợi, nhân hòa” của non nước Khánh Hòa đã vun đúc tính cách của người dân nơi đây từ đời này qua đời khác. Nha Tang – Khánh Hòa xưa đúng là một địa danh lý tưởng cho những ai thích sống cuộc đời như vậy.

    Gió biển Nha Trang tuyệt vời cũng góp phần quyến rũ thêm cho du khách, đó là một thứ gió dịu dịu, êm êm, cũng như nước biển nó có nồng độ Brôm và Iốt gia tăng, cũng góp phần kích thích hô hấp, gia tăng khả năng tuần hoàn trao đổi chất của cơ thể, làm cho du khách cảm thấy ăn ngon miệng hơn, giấc ngủ sâu hơn, tinh thần sảng khoái hơn, chóng lại sức và tăng nhanh sức khỏe.

    Người Nha Trang coi tắm biển là một nhu cầu sinh hoạt bình thường của cuộc sống hàng ngày. Suốt từ sáng tinh mơ đến chiều tối bãi tắm Nha Trang luôn nhộn nhịp tấp nập. Thậm chí ngay cả những trưa hè nắng chói chang, những buổi sáng mùa đông lạnh lẽo, hay cả những ngày biển động … du khách vẫn có thể bắt gặp người Nha Trang tắm biển. Người ta tắm cho tâm hồn và thể xác sảng khoái trước giờ làm việc, trước lúc trưa và sau một ngày lao động mệt nhọc, rũ bỏ hết những bụi bặm, mệt mỏi, rồi sau đó sẽ tận hưởng cái khoảng thời gian dành riêng cho mình. Nha Trang quả là một viện điều dưỡng thiên nhiên lớn, nơi bồi bổ và giữ sức khỏe tuyệt vời. Đúng như bác sĩ Yersin từng nói “ai sống ở Nha Trang sẽ tăng thêm tuổi thọ”.

    Nước biển Nha Trang quanh năm trong xanh do chế độ biển ở đây gần giống với đại dương. Đáy biển đạt hàng chục mét độ sâu khi ra xa chỉ khoảng vài trăm mét, hàng trăm mét khi ra xa 50 –70 km và cả hàng ngàn mét khi ra xa 100km. Nha Trang có 19 hòn đảo lớn nhỏ nằm rải rác xung quanh và chen nhau xa gần – một yếu tố tự nhiên rất quan trọng tạo nên điều kiện khí hậu, chế độ thời tiết và chế độ biển Nha Trang. Nhờ chúng sóng gió lớn thường đổ về Nha Trang sẽ bị chặn đứng lại giảm đi một phần lớn. Cũng nhờ chúng bức tranh sơn thủy hữu tình của Nha Trang được tôn lên tạo nên một thế giới huyền ảo đầy màu sắc tự nhiên làm cho du khách dù chỉ một lần viếng thăm cũng không thể không ghi một ấn tượng nhớ mãi trong lòng. Gần nhất và lớn nhất là hòn Tre, trông xa như một con cá sấu khổng lồ đang trườn giữa hồ nước mênh mông trong xanh. Đảo có những đỉnh cao nối tiếp nhau, cao nhất là đỉnh hòn Tre với 482 m, hòn Lớn 414 m. Vì vậy nhiều khi người ta còn gọi là đảo hòn Lớn. Trên đảo có bãi tắm thiên nhiên thuộc loại lớn nhất Nha Trang và tốt nhất Nha Trang như bãi Trũ có thôn Bích Đầm – một cơ sở cách mạng nổi tiếng trong hai thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ – nằm đối diện với thành phố Nha Trang, song lại có một thế giới sinh hoạt riêng của mình.

    Những hòn đảo khác nhỏ hơn nằm rải rác trên biển tạo nên những hình thù ngoạn mục. Có hòn như một con Rùa lớn đang bơi, có hòn như chiếc nón bài thơ úp giữa biển, hòn tựa cái nghiên mực, có hòn tựa như cánh buồm lớn trôi lơ lửng nửa chìm, nửa nổi với màu sắc thay đổi tùy tâm trạng biển cả – khi nâu, khi xanh lơ, khi đen sẫm, khiến cho du khách không thể không liên tưởng đến một truyền thuyết xa xưa kể về hòn chồng và hòn vợ với đôi vợ chồng chài lưới chung thủy… nằm kế hòn Tre là hòn Miễu hay còn gọi là đảo Bồng Nguyên, nơi có làng chài và hồ cá Trí Nguyên – một điểm du lịch độc đáo và hấp dẫn một sản phẩm du lịch độc đáo nhất của cả nước. Rồi hòn Yến, hòn Tzừm, hòn Mun, hòn Nội, hòn Ngoại … trong đó có những hòn là quê hương của hàng vạn loài chim yến biển thuộc nhóm Salangane, sinh sống và làm tổ bằng chính nước dãi của mình trong những vách đá, hốc đá cheo leo. Đây là một đặc sản thiên phú trời cho biển Nha Trang được xếp vào hàng “bát trân” trong yến tiệc của vua chúa ngày xưa: nem công, chả phượng, da tê ngưu, bàn chân gấu, gân nai, môi đười ươi, thịt chân voi và yến xào. Chẳng phải ngẫu nhiên mà Nha Trang – Khánh Hòa được mệnh danh là “ sứ trầm, biển yến”, nơi “ vàng chôn, ngọc chứa” của tổ quốc :

    “Đảo xanh lố nhố
    Biển bạc mênh mông
    Lộc trời ban xuống Nha Trang
    Vàng chôn, ngọc chứa
    Đầy hang yến sào”.

    Hay :

    “Chung tình biển rộng non cao
    Không bao giờ hết yến sào Nha Trang
    Lỡ khi mưa nắng phũ phàng
    Vàng chôn, ngọc chứa sẵn sàng là đây”.

    Yến sào không những có giá trị kinh tế cực lớn, mà theo cụ Quách Tấn nó còn là hình ảnh tượng trưng cho “cái cao, cái đẹp, cái bất biến, cái vô cùng của tình người – những con người có lương tâm”.

    Đến Nha Trang du khách có thể thưởng thức các món yến ở khách sạn, nhà hàng sang trọng. Nhân đây cũng xin nói qua một chút cách chuẩn bị và cách ăn món yến. Tổ yến được ngâm vào nước trong khoảng 2h để chúng tự giã thành sợi, yến càng tốt thì càng bị tan trong nước, sau đó bỏ thêm một ít dầu lạc và khuấy đều để chất dơ và lông chim quyện vào dầu lạc, vớt bỏ. Những lông chim còn sót lại phải dùng nhíp nhặt cho hết. Dùng một chiếc liễn sứ bỏ chim vào đun cách thủy, tùy khẩu vị của từng người mà có thể thêm vào bột sắn dây, miến, nước cốt gà, bò, nước đường phèn hay hạt sen. Món quý phái nhất là món nấu theo kiểu tàu : bồ câu non nấu cách thủy với yến, yến được múc ra ly, chén sứ, thìa muỗng tốt nhất phải là đồ sứ. An yến thường vào buổi chiều. Trước khi ăn yến cần phải tắm rửa sạch sẽ cho cơ thể được thơm tho thanh thoát, dùng một bộ đồ thật rộng và thoải mái rồi lên giường nằm tĩnh dưỡng khoảng 30 phút, người dùng yến có thể nằm hơi nghiêng, đầu hơi cao, kiểu như người ta chuẩn bị hút thuốc phiện. Sau đó người nhà sẽ dùng thìa bón từng thìa thư thả nhẩn nha. An xong cứ tư thế đó mà ngủ một mạch cho tới sáng, giấc ngủ sẽ sâu và không có mộng mị, sáng ra nếu ai có bệnh sẽ cảm thấy sức khỏe được phục hồi tới 70% sinh lực, tâm hồn và thể chất sẽ cảm thấy thoải mái, sảng khoái, nhẹ nhàng khiến cho ngay cả người dùng yến cũng phải ngạc nhiên đến lạ lùng. Những người khỏe mạnh, bình thường sẽ thấy món yến ít tác dụng hơn và không thấy rõ nét.

    Yến có thể chữa được các bệnh động kinh, đi tướt của trẻ em, và đặc biệt là tráng dương. Người ta thường truyền tụng rằng vua Minh Mạng vì thường xuyên dùng món yến mà một đêm có thể “ ban ơn mưa móc” cho tới 5 bà đã cho ra đời 78 hoàng tử và 64 công chúa và trong hai mươi năm trị vì ( 1820 – 1840 ) đã làm việc rất nhiều với trí tuệ minh mẫn, mang lại nhiều thành quả tốt đẹp cho đất nước trên nhiều mặt, hành chính, kinh tế, văn hóa – xã hội.

    Đáy biển Nha Trang là nơi quần tụ của những rặng san hô muôn hình vạn sắc, tạo điều kiện cho việc sinh sôi nảy nở hàng ngàn sinh linh biển – một tài sản vô tận cho Nha Trang – Khánh Hòa.

    Nếu có dịp ngắm biển Nha Trang vào một đêm trăng sáng thì trước mặt du khách sẽ là một tấm nhung trắng kết hoàng bào, dưới vòm nhà bằng bạch cẩm nạm kim cương. Nếu vào đêm tối trời, ánh đèn của thuyền bè sẽ lấp lánh như ngàn vạn sao sa, cả trời biển, non nước sẽ như một tấm nhung đen trải hồng bào, xích bao, hoàng bào, khung cảnh tựa như một bức tranh trang trí cho một đền thờ huyền ảo của người An Độ.

    Phong cảnh của Nha Trang hữu tình, con người Nha Trang luôn chân tình đón chào du khách, phơi nắng và tắm biển, thăm viếng những di tích lịch sử – văn hóa và thắng cảnh, thưởng thức những món đặc sản, dùng những loại thuốc bổ, rượu bổ được chế biến tữ những sản phẩm của biển và rừng, mua sắm đồ mỹ nghệ đầy tính dân tộc và mang đậm bản sắc địa phương… chắc chắn du khách sẽ hài lòng vì đã chọn đúng một chuyến du lịch lý thú và ý nghĩa, không thể nào quên thành phố xinh đẹp bên bờ biển xanh này.



  3. Tháp Bà Pônaga

    Tọa lạc trên một quả đồi khá cao tại làng Cù Lao, tổng Xương Hà, huyện Vĩnh Xương, tỉnh Khánh Hòa xưa (nay thuộc thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa), là khu di tích quan trọng của người Chăm – Tháp Pô Nagar. Khi người Chăm rút khỏi vùng Khauthara (tức vùng Khánh Hòa), ngôi đền thờ chính này của người Chăm được chuyển giao cho người Việt và trở thành tháp Bà hay tháp Thiên Yana Thánh Mẫu. Cho đến nay, người Việt quanh vùng, cứ đến ngày rằm, mồng một hoặc khi có chuyện riêng từ gì đó đều lên tháp Bà thắp hương, cầu xin Bà phù hộ độ trì. Tại chân núi Tháp Bà, bên bờ sông Nha Trang (sông Cái), có hẳn một xóm của những người làm nghề cung văn, nhạc công, múa bóng chuyên nghiệp thường xuyên phục vụ các nghi lễ dân gian tại Tháp Bà. Xóm đó được gọi là xóm Bóng “Ai về xóm Bóng Hà Ra / Hỏi thăm điệu hát dâng Bà còn không?”.

    Đối với người Chăm, tháp PôNagar là đền thờ vị nữ thần đáng kính nhất và quan trọng nhất của dân tộc mình: thần mẹ xứ sở – Pô Inư Nagar (Pô: Ngài, Bà; Inư: Mẹ; Nagar: xứ sở, đất nước, đô thị). Vì vậy, sau khi rút khỏi vùng Nha Trang, người Chăm đem nữ thần của mình về thờ tại một ngôi đền nhỏ ở làng Hữu Đức, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Hiện nay, cứ vào ngày thứ năm và thứ sáu của tuần đầu tháng giêng theo lịch Chăm hằng năm, người Chăm lại làm lễ Rija – Nugar để cầu xin thần Mẹ xứ sở giúp những điều kiện tốt lành, mưa thuận gió hòa. Nữ thần PôNagar là nữ thần bản địa có vai trò rất quan trọng đối với đời sống của người Chăm.

    PôNagar không chỉ đầy huyền tích mà còn là một trong những tổng thể kiến trúc vào loại lớn nhất của vương quốc Chămpa xưa. Toàn bộ khu đền Pô Nagar nằm trên đồi Cù Lao, hướng mặt về phía biển, hướng về phía Đông, chếch Bắc 7 độ và có cả 3 tầng kiến trúc. Ở tầng trên cùng là hai dãy tháp, xung quanh có tường bao (hiện chỉ còn dấu tích tường xưa ở mé tây và nam). Dãy tháp thứ nhất, từ Bắc xuống Nam, gồm ngôi tháp chính (theo truyền thuyết là tháp thờ thái tử Bắc Hải), ngôi miếu nhỏ (nơi thờ ông bà trồng dưa). Trên dãy tháp thứ hai phía sau, hiện chỉ còn một ngôi tháp mái dài hình cong như yên ngựa (mà truyền thuyết cho là nơi thờ hai người con của Thiên Yana). Thế nhưng có thể nhận thấy ở dãy tháp thứ hai dấu tích nền móng của hai ngôi tháp nữa. Đối diện với tháp thờ chính, hiện còn dấu vết của những tam cấp bằng gạch rất dốc nối liền tầng kiến trúc phía dưới (tầng thứ hai từ dưới lên) với tầng kiến trúc trên cùng. Trên mặt tầng thứ hai hiện còn hai dãy cột chính gồm 10 cột, mỗi dãy 5 cột, bằng gạch hình bát giác, rất lớn và cao, đường kính hơn 1m và cao khoảng 3m. Bao quanh 10 cột lớn, hiện còn hai hàng gồm 14 cột nhỏ và thấp hơn cũng bằng gạch và có hình bát giác như các cột lớn. Toàn bộ hệ thống cột đó dựng trên một nền gạch chữ nhật cao hơn 1m. Trên cơ sở những chiếc cột và tầng nền còn lại, các nhà nghiên cứu đã giải thiết rằng xưa kia, nơi đây là một toà nhà dài lớn, mái ngói, dùng làm nơi để mọi người chuẩn bị đồ lễ trước khi lên các tháp thờ ở phía trên. Ngôi nhà cột dài có cầu thang phía đông dẫn xuống tầng cuối cùng, nơi có ngôi tháp cổng. Thế nhưng, hiện nay, ngôi tháp cổng không còn nữa.

    Tháp thờ chính là một kiến trúc tháp bốn tầng kiểu truyền thống của Chămpa khá lớn (cao chừng 25m). Các mặt tường phía ngoài của thân tháp (trừ mặt đông là nơi có cửa ra vào) được trang trí bằng hệ thống các cột ốp, cửa giả và các đường gờ nằm giữa các cột ốp. Mỗi mặt tường có năm cột ốp cao thon thả và trang nhã. Tính thanh thoát của các cột ốp còn được nhấn bởi một đường rãnh dọc chạy giữa suốt cả thân cột. Thân các cột ốp đều có một hình áp có hai thân và hai trán hình ngọn lửa. Khoảng tường nằm giữa các cột ốp cũng được chạm khắc thành một đường rãnh lõm hình chữ nhật đứng để làm nổi lên đường gờ dài ở chính giữa. Cũng như các hình áp chân cột, các cửa giả nằm chính giữa các mặt tường là một cấu trúc lớn có hai thân nhô ra và vút cao như hình mũi giáo. Trên đỉnh của phần thân, nằm ngay trên đầu các cột ốp ở góc, là bốn hình tháp nhỏ; còn ở khoảng trống giữa các tháp góc đó nhấp nhô những hình trang trí giống các hình áp chân cột ốp. Ba tầng phía trên là những khối kiến trúc mô phỏng phần thân của tháp, lại có bố cục như hình lăng trụ tám mặt. Một trong những nét đặc trưng nhất của ngôi tháp thờ chính là sự có mặt của những con vật bằng đá trên mái: những con chim lớn trên mái bằng của thân chính, những con dê trên mái tầng một, những con hạc đang dang cánh trên mái tầng hai, những con voi đang bước, đầu quay lại ở tầng ba. Cửa ra vào phía đông là cả một cấu trúc hình tháp gắn vào mặt tường. Tháp cửa có hình dáng và cấu trúc hệt như tháp chính, nhưng chỉ có ba tầng, không có hình người đứng. Cửa ra vào tách khỏi tháp cửa thành một tiền sảnh. Ở lối vào có hai trục cửa bằng đá hình chữ nhật, khắc đầy bia ký, đỡ một mi cửa trơn. Bên trên là một trán cửa bằng gạch, hai thân, ôm lấy một phiến đá hình cung nhọn có hình nữ thần Durga múa giữa hai nhạc công. Đáng tiếc là mặt tiền của tháp chính đã hư hại nhiều và tuy được tu sửa, nhưng lại sửa không đúng. Do đó, muốn thấy rõ hình dáng và vẻ đẹp thực của ngôi tháp, phải đứng nhìn từ phía sau của tháp.

    Nằm ngay bên cạnh, về phía Nam của tháp chính là ngôi tháp lớn thứ hai, cao chừng 12m, trong toàn bộ tổng thể kiến trúc ở PôNagar. Mặc dầu phần thân tháp mang sắc thái của một tháp Chăm truyền thống – nghĩa là mặt tường bên ngoài được trang trí bằng các cột ốp – nhưng toàn bộ phần đỉnh lại không phải là các tầng thu nhỏ dần về phía chóp mà là một khối hình tháp hình cung nhọn được tạo bởi bốn mặt cong từ bốn mép tường khép vào với nhau. Điều đặc biệt nữa ở ngôi tháp lớn thứ hai tại PôNagar là khối chóp tháp bằng đá hình linga nhô lên từ một khối bệ hình củ hành bốn múi được trang trí bằng bốn hình đầu bò thần Namđin ở bốn góc. Cũng như ngôi tháp chính, cửa ra vào phía đông của tháp nhô hẳn ra thành một cấu trúc gồm gian tiểu sảnh ở phía trong và cửa ở phía ngoài, nhưng trán cửa là khối đá trơn chứ không có hình chạm khắc như của tháp chính.

    Nằm trên dãy thứ nhất, ở phía nam của ngôi tháp hình chóp nhọn vừa mô tả trên đây, là một kiến trúc vừa nhỏ, vừa đặc biệt. Thân dưới của kiến trúc hình chữ nhật gồm ba mặt tường và cửa vào phía đông như mọi tháp Chăm khác, nhưng không có các tháp nhỏ ở bốn góc mái. Tầng thứ nhất có cấu trúc và hình dáng đơn giản như phần thân của kiến trúc. Phía trên tầng một, không còn cấu trúc theo kiểu tầng nữa, mà là một bệ mái cong hình yên ngựa phô ra hai đầu hồi hai hình cung nhọn có hai thân. Bên trong tháp chứa một linga không có bệ làm tượng thờ.

    Ngôi tháp thứ tư và là ngôi tháp còn nguyên vẹn nhất của PôNagar nằm về phía tây – bắc trên dãy kiến trúc thứ hai. Xét về loại hình thì toà kiến trúc này là một tháp tầng, nhưng số tầng chỉ có một và đỉnh nhọn được thay bằng bộ mái dài hình yên ngựa. Toàn bộ phần thân hình chữ nhật kéo dài theo hướng Bắc – Nam của tháp có cấu trúc và hình dáng như các tháp Chăm truyền thống khác, nhưng trong các ô cửa giả lại nổi lên các hình chạm khắc đặc biệt bằng gạch: hình chim thần Garuda ở mặt nam, hình con sư tử trong tư thế tấn công với các móng vuốt của hai chân trước co lại sát thân ở mặt bắc, một người cầm lao ở tay phải, cầm các góc, trên đầu các cột ốp ở góc tường nhô ra những hình trang trí thể hiện các tiên nữ Apsara như ở tháp chính (hình phía ngoài bằng đá, hình phía trong bằng đất nung). Các cột ốp góc tường đội bốn trang trí góc có hình như quả chuông bằng gạch, còn phần diềm mái nằm giữa các quả chuông gạch được trang trí bằng các hình áp lô nhô như răng cưa. Tầng trên là một khối kiến trúc mô phỏng phần thân và cũng chạy dài theo hướng Bắc – Nam. Mỗi mặt tường đều được trang trí bằng các cột ốp (mặt dài 3 cột, mặt ngắn 2 cột) và cửa giả ở chính giữa mỗi mặt. Toàn bộ đường diềm (phía trên) nhô ra, khá mạnh của tầng một có chức năng làm bệ cho bộ mái gạch hình yên ngựa phía trên. Hai mặt hồi hình vòm cung nhọn uốn vào phía trong phô ra hai trán nhà có chạm khách hình một vị thần nào đó đang ngồi dưới tán các đầu rắn Naga; còn hai chân mái phía đông và tây được tô điểm bằng các hình vòm nhấp nhô – mỗi mặt 5 hình. Cửa tách ra khỏi mặt đông của thân thành một tiền sảnh ngắn có mái hình cung nhọn và một trán cửa kép. Chính phía dưới nền của tháp Tây – Bắc, vào những năm đầu thế kỷ 20, trong khi tu sửa, người Pháp đã tìm thấy kho báu thiêng gồm những đồ cúng tiến bằng vàng bạc.

    Việc thờ phụng nữ thần Yan PôNagar đã có từ lâu và tồn tại liên tục trong nhiều thế kỷ ở tháp PôNagar. Điều lý thú và rất có ý nghĩa là: nếu bia ký được ghi bằng chữ Phạn thì nữ thần mang tên nữ thần của Ấn Độ Bhagavati (Sakti hay vợ của thần Siva), còn bia ký ghi bằng chữ Chăm cổ thì nữ thần được gọi là Yan Pô Nagar (Thần mẹ xứ sở). Rõ ràng, cái vỏ hay hình thức của Ấn Độ giáo đã trùm lên hay đã nhập vào việc phụng thờ Nữ thần mẹ Yan Pô Nagar. Điều này cũng được phản ánh rõ qua hình ảnh bức tượng đá nữ thần hiện còn được thờ trong ngôi tháp chính ở Pô Nagar.

    Bức tượng thờ bằng đá khá lớn, cao 2.6m, được tạc bằng đá hoa cương nguyên khối màu đen, ngồi trên bệ đá uy nghiêm hình đài sen thể hiện một nữ thần ngồi xếp bằng trước một tấm tựa hình chữ U ngược được chạm cả hai mặt: mặt trước là một vòng cung dạng Kala – Makara – Tôrana (đầu Kala nhìn thẳng ở chính giữa, hai đầu Makara nhìn nghiêng ở hai bên), mặt sau là kiểu trang trí hình lá nhọn to uốn ngược đầu lên (mỗi bên hai lá) hướng về hình lá đề to ở chính giữa. Nữ thần chỉ mặc chiếc váy ở phía dưới, còn toàn bộ phần trên để trần phô ra cặp vú to căng tròn, những nếp nhăn lớn ở bụng chứng tỏ đã trải qua nhiều lần sinh nở, bên dưới mặc một chiếc xà rông. Nữ thần có mười tay: hai bàn tay dưới đặt lên hai đầu gối và không cầm gì cả, bàn tay phải để ngửa, còn bàn tay trái cũng mở nhưng dựng đứng và hướng về phía trước. Các bàn tay khác đầu cầm các vật phụ thuộc: đoản kiếm, mũi tên, trùy và lao ở bên phải; chuông nhỏ, đĩa, cung và tù và ở bên trái. Đáng tiếc là đầu tượng đã mất, cái đầu hiện nay là đầu được gắn vào về sau. Tất cả các dấu hiệu, đặc biệt là các vật cầm tay cho biết tượng thờ chính ở Pô Nagar là tượng Mahisamardini – Nữ thần diệt trừ quỷ ác Drga – Sakti, hay vợ của thần Siva. Dựa trên các yếu tố phong cách, các nhà nghiên cứu xác định tượng thờ ở Pô Nagar có niên đại thế kỷ 10. Do đó, có thể cho rằng pho tượng hiện nay đang được thờ ở tháp chính Pô Nagar là pho tượng bằng đá do vua Jaya Indravaman dựng lên vào năm 965 mà bia ký tại tháp đã nhắc tới. Hình tượng nữ thần cũng được thể hiện trên hình khắc trán cửa của ngôi tháp chính. Toàn bộ được đặt trên một Yoni lớn, gồm nhiều lớp đá chồng khích lên nhau, được đẽo gọt từ nguyên khối.

    Hình khắc đá trang trí trán cửa thể hiện một nữ thần bốn tay đang đứng trên lưng một con trâu con. Nữ thần cầm trong ba tay những vật phụ thuộc sau: tầm sét, bông sen, trùy, còn một tay dưới đưa lên ngực làm ấn quyết. Có thể dễ dàng xác định nữ thần trên trán cửa ở Pô Nagar cũng chính là Mahisamardini. Thế nhưng, tác phẩm điêu khắc này lại có niên đại muộn hơn – giữa thế kỷ 11.

    Ngoài tượng và hình khắc thể hiện nữ thần – đối tượng thờ phụng chính – ở khu vực tháp Pô Nagar còn có những tác phẩm điêu khắc bằng đá và bằng gỗ khác như: hai con voi gỗ, các linga nhỏ- vật thờ trong các tháp phụ, tượng một phụ nữ quỳ, tượng Visnu và nhiều mảnh điêu khắc đá khác. Trong số đó, có những tác phẩm điêu khắc như tượng Visnu, tượng người phụ nữ có niên đại thế kỷ 8 – 9 thời Hoàn Vương.

    Mặc dầu không còn lại những dấu tích vật chất, nhưng các truyền thuyết, các địa danh mang tính thánh tích lại cho ta biết tục thờ nữ thần mẹ Yan Pô Nagar mà về sau, người Việt gọi là Thiên Y Thánh Mẫu có mặt gần như trên khắp lãnh thổ Chămpa xưa. Theo bài hát ca ngợi tại lễ cúng ở lăng Pô Inư Nagar thì “Thần có tên là Pô Yan Inư Nugar Taha, nữ thần vĩ đại của xứ sở. Thần còn có tên nữa là Muk Juk (Bà đen), là Patao Kumây (Chúa tể của phụ nữ). Thần sinh ra từ mây và bọt biển. Thần có 97 người chồng, mà nổi tiếng nhất là Pô Yan Amư (Ngài thần Cha). Thần sinh ra 38 cô con gái, trong đó có những cô con gái nổi tiếng như: Pô Nưga, Jạrạ, Pô Bia Tikuk, Pô Jạrạ Nai Anéthơ (Bà Jạrạ Nàng Nhỏ), Pô Sah Anethơ và Pô Nưgar Gahơlâu (Bà xứ Trầm)”.

    Về sau, từ thế kỷ 10, khi Hồi giáo du nhập vào đất Chămpa, huyền thoại về nữ thần mẹ xứ sở Yan Pô Inư Nagar lại khoác lên bộ áo mới – bộ áo đạo Hồi, nhưng cốt lõi xưa vẫn không mất đi. Trong các sách cổ ít nhiều chịu ảnh hưởng của Hồi giáo thì nữ thần Pô Nagar của người Chăm, dù có bị gắn với đạo Hồi, vẫn hiện ra như trong những câu chuyện dân gian. Khi giải thích sự hình thành của thế giới, các bộ sách cổ đều nói tới bốn thời kỳ sáng thế lớn: Lần đầu tiên, thế giới do Đại nữ thần Atmưhekat tạo ra vũ trụ từ hư không với 12 mặt trời và 12 mặt trăng. Ông thần phò tá Đại nữ thần là Mơmaisahaicadông đã dùng tên bắn vỡ hết mặt trời, mặt trăng để cho khí hậu bớt nóng. Thế là xảy ra tận thế lần đầu. Lần thứ hai, Đại nữ thần sai vị thần thân tín của mình là Ông Cú đi tạo thiên lập địa. Nhưng khai thấy trời đất quá tối tăm, con người còn mông muội, ông Cú đành trở về. Lần thứ ba, Đại nữ thần lại sai ông Cú đi. Lần này, đi cùng ông Cú có thần Aulahú (Alla), thần Mưhamach (Môhamét) và nhiều thần Hồi giáo khác. Sau khi làm cho trời đất sáng sủa, vạn vật sinh sôi, ông Cú về trời nghỉ ngơi. Lần thứ tư, ông Cú sai con gái đầu của mình là Pô Inư Nagar xuống trần. Nữ thần Pô Inư Nagar lập ra nước Chămpa và tất cả các nước khác, sinh ra các vị giáo chủ (Nabi) cho người Chăm, sinh ra các vị vua đầu tiên của nước Chămpa… Tất cả các tinh tú, mặt trời, mặt trăng trên vòm trời là hình tượng cụ thể của Bà. Bà là mẹ sáng tạo ra muôn vật, sáng tạo ra văn hóa…

    Đến thế kỷ 17, vùng đất Chămpa, trong khu vực tỉnh Khánh Hòa hiện nay, trở thành đất của người Việt. Từ thời điểm đó đến nay, khu tháp Pô Nagar trên đỉnh Cù Lao ở vùng Khauthara xưa trở thành đền thờ của người Việt dưới tên gọi: Tháp Bà hay Tháp Thiên Y Thánh Mẫu.

    Để Việt hóa ngôi đền của người Chăm, những người chủ mới, dựa trên những huyền thoại và truyền thuyết xưa của người Chăm, đã sáng tạo ra một huyền thoại mới cho Tháp Bà. Năm 1856, theo lời kể của dân địa phương (người Việt) quanh vùng Tháp Bà, Phan Thanh Giản đã ghi lại truyền thuyết về ngôi tháp. Sau này, các quan địa phương đã khắc truyền thuyết đó lên bia đá, rồi dựng ở Tháp Bà. Nội dung truyền thuyết Tháp cổ Thiên Y như sau:

    Tục truyền Thiên Y là một nàng tiên, nguyên sơ giáng xuống núi Đại Điền. Thuở ấy, có hai vợ chồng ông già ở trên núi, trồng dưa để sinh sống. Khi dưa chín, kẻ lạ thường đến hái. Ông già để ý rình. Một đêm, ông thấy một cô gái độ 13, 14 tuổi theo bóng cây, lần đến, lấy dưa vần chơi dưới bóng trăng. Ông đón cô gái, gạn hỏi thì ra chính cô gái này đã hái trộm dưa từ lâu. Nhưng thấy cô gái còn nhỏ, yếu ớt, ông bèn đem về nuôi. Cô gái, rõ ra là một người trời sinh, nên được vợ chồng ông rất yêu thương. Một ngày, mưa lụt bỗng tràn đến. Cô gái sực nhớ phong cảnh cũ ở Tam Thần Sơn, liền kiếm cây hoa, chất mảnh đá làm núi giả để chơi. Ông già thấy cô gái chơi như vậy nên nổi giận, rầy la. Trong lúc bị rầy la, thì cô gái thấy một cây già nam trôi theo nước lụt đến. Cô bèn biến hình, nhập vào thân cây ấy. Rồi cây ấy trôi theo nước lụt, dạt vào bờ biển phương Bắc. Người phương ấy thấy cây thơm lạ, rủ nhau khuân về nhà, nhưng nặng quá không nhấc lên nổi. Một vị thái tử nghe chuyện bèn đến bờ biển xem, rồi xuống vớt cây, nâng lên tay, đem về để nơi điện các.

    Thái tử khi ấy vừa 20 tuổi, chưa vợ. Chàng thường ngày vỗ về cây già nam kia, lòng bồi hồi vơ vẩn. Có khi chàng chợt thấy dưới bóng trăng lờ mờ dường như có người thoảng đi đến, thái tử lấy làm lạ. Một đêm nọ, sau khi mọi người đều yên giấc, chàng tới chỗ từng thấy bóng người thì thấy một cô gái đẹp. Bị giữ lại gặng hỏi, cô gái đành phải nói rõ tông tích. Thái tử nửa mừng, nửa sợ, bèn tâu lên vua cha. Vua cha cho gieo quẻ và được quẻ tốt, bèn cho thái tử và cô gái kết hôn. Vợ chồng thái tử ăn ở với nhau được ít lâu thì sinh được một trai, đặt tên là Trí, và một gái, đặt tên là Quý.

    Một hôm, nhớ chốn cũ, nàng bèn dắt hai con nhập vào cây già nam, vượt biển về phương Nam, thẳng đến cửa Cù Huân, rồi tìm về chốn cũ tại triền núi Đại Điền. Khi ấy, vợ chồng người trồng dưa đã mất. Nàng bèn lập đền để phụng tự.

    Thấy dân vùng vợ chồng người trồng dưa từng sống khờ dại, thật thà, không biết việc làm ăn và phòng hoạn nạn, nàng bèn dạy bảo. Bà lại cho đục đá ở núi Cù Lao làm tượng truyền thần, rồi giữa ban ngày, bà phi thăng đi mất.

    Sau khi vợ về nam, thái tử không biết vợ đi đâu, bèn sai người đáp thuyền đi tìm. Khi đến Cù Huân, những kẻ tùy tùng theo lệnh thái tử đi tìm vợ hách dịch, hà hiếp dân sở tại và không kính trọng thần tượng. Bất thình lình, một trận cuồng phong nổi lên. Chiếc thuyền chở bọn người xấu kia bị lập úp xuống, hóa thành một cụm đá to.

    Từ đấy về sau, Bà hiển linh. Bà có khi cỡi voi trắng đi dạo trên đỉnh núi. Khi Bà xuất hiện, trong núi có ba tiếng nổ vang như súng lớn. Có khi Bà hiện thành dải lụa bay giữa không trung. Có khi Bà cỡi cá sấu trong vùng đảo Yến, núi Cù. Dân địa phương ngưỡng vọng, cho là thần, có cầu khẩn việc gì thì thường ứng nghiệm, bèn xây hai tháp trên núi Cù Lao: tháp phía tả thờ Chúa Tiên (Thần Thiên Y), tháp phía hữu thờ Thái Tử. Phía sau tháp dựng đền nhỏ thờ hai người con của Bà. Phía tả tháp lại xây một đền nhỏ nữa để thờ hai vợ chồng ông già trồng dưa.

    Mặc dầu là truyền thuyết của người Việt và mang tính thần kỳ và sự tích, truyền thuyết Tháp Cổ Thiên Y vẫn còn giữ lại hạt nhân thần thoại của người Chăm: Nữ thần Thiên Y – anh hùng văn hóa và là nữ thần của cây trầm hương. Cái cốt lõi huyền tích đó còn là cơ sở để người Việt sáng tạo ra nhiều truyền thuyết về Thiên Y thánh mẫu cũng như những sự tích khác. Rất có thể truyền thuyết mà Phan Thanh Giản ghi lại được của người Việt là dị bản đã Việt hóa của truyền thuyết Nàng Mưjưk hiện còn được lưu truyền trong người Chăm ở Ninh Thuận – Bình Thuận. Nội dung truyền thuyết về Nàng Mưjưk như sau:

    Ngày xưa, tại núi Lănggari thuộc xứ Nha Trang có vợ chồng nhà nọ, ăn ở phúc đức, nhưng hiềm một nỗi đến cuối đời vẫn không sinh được mụn con cho vui cửa nhà. Năm ấy, vợ chồng già trồng được một rẫy dưa cho rất nhiều trái. Đêm rằm tháng bảy, một cô gái, nhan sắc tuyệt trần, tuổi chừng 16, không biết từ đâu đến, đi vào rẫy dưa. Nàng điềm nhiên hái những trái dưa tốt rồi tung lên trời làm trò chơi. Sáng hôm sau, vộ chồng ông già vào thăm rẫy thì thấy dấu chân người và những trái dưa rơi rớt lung tung. Ông bà ngạc nhiên. Liền ba đêm đều như vậy. Đến đêm thứ tư, ông bà quyết định bắt cho được kẻ phá dưa. Vào khoảng nửa đêm, bỗng họ thấy một nàng tiên trên trời bay xuống hái dưa tung chơi. Vợ chồng ông già vừa sợ, vừa mừng. Họ nhủ thần rằng có lẽ trời thương cảnh già hiu quạnh nên cho tiên nữ xuống đây. Thế rồi ông bà cùng chạy ra ôm cô gái và nói cho cô biết ý muốn của mình. Cô gái vui lòng ở lại và nhận ông bà làm cha mẹ nuôi. Ông bà yêu cô gái như con đẻ và đặt tên nàng là Mưjưk.

    Phía nam nhà ông bà già có một con sông lớn chảy ra biển. Ngày ngày nàng Mưjưk thường ra sông tắm. Một hôm nàng thấy một cây trầm hương lớn độ một ôm, dài chừng ba sải đang lập lờ trôi theo dòng sông. Nàng liền bám vào cây trầm để tập bơi. Đột nhiên, một ngọn sóng lớn ập tới, kéo cây trầm cùng nàng ra biển.

    Tại một xứ nọ, dân chúng đang làm ăn yên ổn, bỗng dưng bị hạn hán liên miên. Đồng ruộng trở nên khô cằn, xóm làng tiêu điều. Nhà vua và triều đình cho lập đền cầu mưa, nhưng vẫn không có mưa. Các nhà thông thái cũng đành bó tay, không hiểu vì sao mà suốt bảy năm trời hạn hán liên miên như vậy. Bỗng có một đạo sĩ tâu với vua rằng ngoài cửa biển có một cây trầm hương từ phương xa dạt vào, muốn hết hạn thì phải vớt cây trầm hương đó lên.

    Lập tức, cả ngàn người được gọi ra cửa biển. Nhưng họ không tài nào kéo được cây trầm hương lên. Chuyện cây trầm kỳ lạ lọt đến tai thái tử. Chàng tới bờ biển và thử kéo cây trầm lên. Lạ thay, cây trầm trở nên nhẹ bỗng, và chàng vác cây trầm về cung. Từ khi cây trầm được vớt lên thì mưa thuận, gió hòa, nhân dân no đủ. Nhưng thái tử thì lại đổ bệnh, quên ăn, mất ngủ. Đêm đên, chàng ra ngồi cạnh cây trầm, và lập tức từ trong cây trầm phát ra tiếng kèn, tiếng sáo du dương.

    Một đêm trăng sáng, như thường lệ, chàng lại một mình ngồi bên cây trầm. Bỗng một nàng tiên xinh đẹp từ cây trầm bước ra. Chàng hỏi nàng là ai thì nàng e lệ cho biết “Nhà em ở xa lắm, vì mải chơi nên trôi dạt tới đây. Cha mẹ vẫn gọi em là Mưjuk”. Từ hôm đó, chàng không còn u sầu nữa. Một hôm, thái tử ướm lời muốn được cùng nàng kết tóc se tơ. Nàng lắc đầu “Em chẳng dám nhận lời, vì xa quê, xa cha mẹ, chàng lại là hoàng tử. Nếu chàng thật lòng yêu em thì phải được vua cha và mẫu hậu thuận tình”. Hoàng tử vô cùng vui sướng, gặp ngay vua cha. Nghe hoàng tử nói, nhà vua vô cùng phẫn nộ và truyền rằng “Ta đường đường là một bậc vương giả, há lại đi cưới cho con ta một đứa con gái không cha không mẹ ư?”. Lời của vua cha làm chàng rất buồn. Từ đó, chàng như người mất trí, cứ đêm đến, chàng lại lén ra cây trầm âu sầu than thở. Thấy vậy, nhà vua và hoàng hậu cho mời các danh y tới chữa bệnh cho hoàng tử. Nhưng bệnh của chàng ngày một nặng thêm. Sực nhớ tới vị đạo sĩ, người đã phát hiện ra cây trầm dạo nào, vua cho đón ông ta tới và hỏi nguyên nhân bệnh tật của hoàng tử. Vị đạo sĩ tâu “Bệnh của hoàng tử không có thuốc gì chữa khỏi. Số là hoàng tử và nàng tiên cây trầm hương có duyên nợ từ kiếp trước. Nàng tiên ấy chính là con của thượng đế, được sai xuống nước Chiêm Thành. Muốn cho hoàng tử khỏi bệnh, chỉ có cách cho hai người được kết duyên”.

    Không còn cách nào khác, vua và hoàng hậu thuận tình cho hoàng tử và nàng tiên trầm hương lấy nhau. Tiệc cưới được tiến hành suốt một trăm ngày liền. Sau sáu năm chung sống, nàng Mưjưk sinh được hai người con trai khôi ngô, tuấn tú.

    Thấy chồng luôn đem quân đi cướp phá các nơi, nàng Mưjưk cố can ngăn nhưng không được. Một đêm, nàng biến mình vào cây trầm rồi bay về quê hương xứ sở. Về tới nơi, nàng dạy dân cày bừa, dệt vải, xây thành đắp lũy, rồi tự xưng là Pô Inư Nưgar.

    Được tin nàng Mưjưk đã bỏ về quê cũ và làm vua nơi ấy, hoàng tử vô cùng tức giận và quyết định cùng hai con đi gọi nàng về. Hôm đó, nhìn thấy một chiếc thuyền lạ tiến vào cửa biển Nha Trang, nàng Mưjưk biết ngay là người chồng tàn bạo của mình đã đến. Lập tức, nàng làm cho giông tố nổi lên, nhấn chìm chiếc thuyền xuống đáy biển. Hoàng tử và hai người con biến thành ba tảng đá. Ngày nay, tại cửa biển Nha Trang vẫn còn dấu vết của nhũng tảng đá đó.

    Trên cơ sở những thần thoại nguyên sơ về Nữ Thần Mẹ, người Chăm Bani (người Chăm theo đạo Hồi cũ) ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận lại sáng tác ra một câu chuyện mang tính pha trộn khá đặc biệt về Pô Nagar như sau:

    Thuở khai sơ, vũ trụ có mười hai mặt trăng, mười mặt trời. Trời thì thấp, đất còn mỏng manh và chưa có người. Mãi tới giờ thứ ba, ngày thứ hai, tháng sáu, năm con Chuột theo lịch Chăm, bà Atmêhưcắt mới bắt đầu trông coi vạn vật. Vì nóng quá do nhiều mặt trời gây ra nên vạn vật không sinh nở được. Thánh Nơmaisơbaicadong bèn giương cung bắn tan tác các mặt trời. Thế là vũ trụ trở nên u ám, tối tăm.

    Đến ngày thứ hai, mồng sáu tháng năm, năm con Chuột, ông Auhahú thụ sắc của bà Atmêhưcắt, từ trong cõi hư tối ra đời. Sau mười năm tu luyện, ông đã thành công trong việc tạo thiên lập địa lại cho sáng sủa hơn. Ông hóa ra ông Mưhămmách. Ông Mưhămmách sinh ra ông Đibraiel. Ông Đibraiel lại sinh ra Ibarmamimbư trị vì đất đai của Auloahu. Lúc ấy, ông A Tầm và bà Hao Oa vì mắc tội, nên bị trời đày xuống trần gian. Hai ông bà sinh con đẻ cái, tạo ra loài người. Khi ông bà mất, thì tất cả tiêu tan hết, chỉ còn lại một cây Môsi vời vợi, cao lớn.

    Ngày thứ ba, mồng sáu, tháng hai, năm con Trâu, Auloahú, tức ông Cú, lại từ trong cây Môsi ra đời. Ông lại lo khai quang trời đất và tái tạo muôn vật. Trước hết, ông làm ra loài cá và các loài vật sống dưới nước. Tiếp đến, ông làm ra cây cỏ và thú vật. Kế đến, ông làm ra ma quỷ và con người. Bấy giờ, vật và người sống lẫn lộn, có xác mà không hồn. Đến năm con Dê, ông Cú sai con gái đầu lòng tên là Mụ Dụ xuống trần gian thay ông cai quản vạn vật. Mụ Dụ chính là bà Nagar.

    Khi xuống trần (ngày 19 tháng 7 năm con Chuột), bà Nagar có các thần Aulóa, Giamư và Têpatathor phò tá. Lúc đầu, bà xuống hạt Hạ Ngâu, thuộc vùng Brama xứ Tuy Hòa ngày nay. Ở đó, bà dựng một xóm, đặt tên là Pallaisarioana (tức xóm Bà Lài ngày nay). Sau đó, bà lập đền đài ở xóm Palhucmarasam tại Pandaran (Phan Rang). Ít lâu sau, bà dời đến Chơcalâu (tức núi Đại An ở Diên Khánh, Khánh Hoà).

    Thấy vũ trụ xếp đặt chưa yên, bà Nagar sửa lại. Bà lấy một cái cân mà bầu trời là đĩa cây, đất là quả cân, các vì tinh tú là hoa cân giao cho các vị thánh. Sau đó, bà sắp xếp vũ trụ theo hình thân thể của bà: đầu là phương tây, chân là phương đông, mặt trời - mặt trăng là hai mắt, sao Mai là trái tim, vòng sao Mỏ Cáy là cánh tay, vòng sao Bắc Đẩu là ống chân, sao Đế Thích là đầu gối. Khi bà hắng giọng lần đầu thì trời đất mở rộng ra một khoảnh. Bà liền hóa ra nắm gạo hồn, một thúng lúa và giao cho ông Giamư đem gieo ở chân trời. Rồi bà truyền cho ông săngcala (con ốc có hình như cái loa, để thổi báo hiệu) đem thổi. Trời đất, nhờ đó mà ngày càng sáng tỏ. Bà sai ông Aulóa làm ra thánh tự và sai hai vị thầy tu là Imun và Catíp lo việc thờ cúng. Đạo Islam từ đó ra đời. Bà lại sai ông Tepatathor lập một Pơcanơrai và tìm hai vị tu sĩ Pôthia và Paxê trông coi đạo Acaphiar (đạo Bàlamôn). Từ đó, tục hỏa táng ra đời.

    Bà Nagar hắng giọng lần thứ hai, trời đất nổi sấm sét. Lần thứ ba, đất gầm thét. Lần thứ tư, biển động, rừng rung. Tiếp đó, bà và ba vị thần thổi ra bốn luồng hơi: hơi của bà thành gió Bắc, của ông Aulóa thành gió Nam, của ông Giamư thành gió Tây, của ông Têpatathor thành gió Đông. Xong việc, ba vị thần phò tá bà được giao những việc khác. Ông Aulóa trông coi nước Nôrơrioan ati chana - gồm các nước Chân Lạp, Chà Và, Chiêm Thành, Cao Miên và Việt Nam. Ông lập ra một thánh tự, giao cho hai vị thầy tu Imun và Catip lo việc truyền đạo Islam, lập nhiều chùa chiền để có nơi lễ bái, viết kinh sách để truyền dạy, lập ra lịch để mọi người biết tuổi tác, dạy dân cạo đầu và cử người đi truyền đạo khắp nơi. Ông Giamư thì ở xứ Brama và lập đền đài ở vùng Chămrai (thượng du Phú Yên). Ông được bà Nagr giao cho cái săngcala để tạo ra vạn vật. Ông thổi săngcala lần đầu, làm cho trời đất quang đãng; thổi lần thứ hai, làm cho loài người sinh nở, cây cối đơm hoa, kết quả; thổi lần thứ ba, loài người biết cảm xúc, các vật biết kêu và chim biết bay; thổi lần thứ tư, trời sinh ra bốn phương; thổi lần thứ năm thì đủ tám hướng. Ông Giamư giao thóc cho loài người, dạy dân cách trồng lúa, lấy lá cây làm thuốc, đánh đá lấy lửa. Ông lại đặt ra tục lệ hàng năm. Ông sang Mơ Cá (thành La Méc) kết duyên với bà tiên, sinh ra các con: 50 người con gái cho xuống đồng bằng, 50 người con trai cho lên vùng thượng du. Ông Têpatathor thì ở vùng Pandurang. Ông lĩnh thánh tự của bà Nagar, giao cho hai thầy tu Pôthia và Paxe trông coi thờ phụng và truyền đạo Acaphiar. Sau đó, ông qua Trung Quốc dạy người Tàu cách kết tóc.

    Ông Aulóa truyền ngôi cho con là Nưpiloahu để sang Ả Rập tu hành. Vì Nưpiloahu có tội nên đất nước gặp nhiều tai ách, ma quỷ quấy phá, dân tình khổ cực. Bà Nagar động lòng, phải giáng trần, truất ngơi Nưpiloahu, bắt loài ma quỷ đày xuống âm ti và ban phước cho Nưpiloahu trấn áp chúng. Từ đó, âm dương cách biệt. Sau đó, bà Nagar cho Patao Patô lên làm vua. Được bà Smư, sứ giả của bà Nagar giúp, Patao Patô cho sửa sang mọi việc và phân chia thành hai giống khác nhau. Ông Patao Patô trị vì được bảy mươi năm thì về trời. Bà Nagar bèn truyền cho ông Aulóa về làm vua. Các ông Giamư và Têpatathor cũng trở về phò tá. Ông Giamư coi về nghề nông và nghề cá. Ông Têpatathor coi về số mạng và sinh tử của loài người. Ông Aulóa chỉnh đốn lại lịch: mỗi năm chia làm 12 tháng, mỗi tháng chia làm 30 ngày, mỗi ngày chia làm 5 giờ - 2 giờ tốt và 3 giờ xấu.

    Trong lúc mọi việc đang tiến hành thì xảy ra sự bất hòa giữa bà Nagar và ông Giamư, nên ông Giamư xây được cái gì thì bà Nagar lại thổi đi cho hỏng. Bà Nagar lại xoay chiều ánh sáng khiến trời đất mờ dần, đem vận mệnh nước Nơsơrinan Chanachá thắt làm ba nút. Ông Giamư chán nản, còn ông Aulóa, bà Smư và ông Giamư sang Mơ Cá tu hành. Ông Têpatathor sang Trung Hoa một thời gian rồi trở về Panchorang. Bà Nagar lại lên ngôi, trị nước. Bà lo xây dựng đất nước, dạy dân đóng cày cày ruộng, dùng xe trâu chuyên chở. Bà cũng đem thuần phong mỹ tục dạy bảo mọi người.

    Mặc dù Bà Nagar tận tình, nhưng vì bà lấy chồng trần nên phải chịu đọa đày, khiến dân chúng bị khổ lây. Thấy thế, ông Cú ra lệnh cho Patao Patô sai bốn vị thái tử con bà là Athun, Aly, Thun Prang và Pither xuống thay bà.

    Do làm được nhiều việc tốt cho dân, cho nước, nên bà Nagar được người Chăm đời đời sùng kính và thờ phụng. Hằng năm, vào dịp tế Katê và các dịp tế lễ khác, dân chúng đều mang nhang, đèn, hoa quả, cỗ bàn dến cúng lễ nơi đền của bà rất đông.


    Tất cả những tài liệu bia ký và điêu khắc đều cho chúng ta biết về lịch sử lâu đời cũng như tính phức hợp của đền Pô Nagar. Thế nhưng, bao giờ Pô Nagar cũng là đền thờ Nữ thần Mẹ Yan Pô Nagar của người Chăm. Người Chiêm Thành tôn hiệu Bà là Ana Diễn Bà Chúa Ngọc Thánh Phi. Triều Nguyễn ngay buổi đầu đã phong tặng Bà là Hồng Nhân Phổ Tế Linh Ứng Thượng Đẳng Thần và cắt dân làng Cù Lao ba người sung làm Từ Phu.

    Khu tháp Pô Nagar còn là nơi sau thánh địa Mỹ Sơn, giữ lại được nhiều bia ký cổ của Chămpa nhất. Các bia ký ở PôNagar không chỉ cho chúng ta biết về lịch sử và vai trò của ngôi đền mà còn là những tài liệu vô giá và phong phú về vương quốc cổ Chămpa. Với tất cả những gì còn lại, từ kiến trúc tới điêu khắc, từ bia ký tới truyền thuyết, khu tháp cổ Pô Nagar hay tháp Bà ở Nha Trang quả là một di tích lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và danh thắng quan trọng mà người Chăm đã để lại cho đất nước ta.

  4. Bài thuyết minh tỉnh Khánh Hòa - Bác sĩ Alexande Yersin (1863-1943)

    Bác sĩ Alexande Yersin
    (1863-1943)

    Ngày 22/9/1863 Alexandre Yersin đã ra đời tại một vùng quê miền núi ở Navanux – thuộc tổng Vaud – nước Thụy Sĩ .

    Năm 1865 vua Louis XIV hủy bỏ chỉ dụ Nantes không còn đối xử bình đẳng với những người theo giáo phái Calvin như trước. Tổ tiên Yersin bị khủng bố phải rời bỏ vùng quê cha đất tổ vùng Languedoc (miền nam nước pháp) di cư sang Thụy Sĩ.

    Cha của Yersin là một giáo viên sinh học. Mẹ quê ở Paris. Yersin là em trai trong gia đình có hai chị em.

    Với tính khiêm tốn trầm lặng thích sống ẩn dật, ông ít nói về đời mình nên hiện nay người ta ít biết về những ngày thơ ấu của ông .

    Năm 20 tuổi (1883) Yersin học ngành y tại Lausanne (Thuỵ Sĩ). Sau đó tiếp tục học tại Marbuorg (Đức) và tốt nghiệp đại học Paris (Pháp).

    Từ năm 1886 ông làm việc tại viện Pasteur Paris và cộng tác với bác sĩ Roux- tìm độc tố vi khuẩn bạch cầu.

    Năm 1890 ông được chuyển lại quốc tịch pháp.

    Trong những năm miệt mài nghiên cứu tại viện Pasteur Paris Ông đã chứng tỏ là một thiên tài hiếm có một con người giàu nghị lực ham tìm tòi học hỏi. Tương lai sáng mở ra trước mắt ông. Nhưng Yersin lại hướng về chân trời mới muốn tìm ra lối thoát khỏi cuộc sống hiện tại “tôi luôn luôn mơ ước khám phá đất lạ, thám hiểm khi còn trẻ ta luôn tưởng tượng những đều kì lạ sẽ đến, không có gì là không có thể làm được”.

    Bác sĩ Vallerey – Radot cháu nội của nhà bác học Pasteur, đã nhận xét về Yessin: “từ nhà ông nội tôi, tôi thấy ông ấy nhìn bản đồ hàng giờ”.

    Thế rồi Yersin bất ngờ rời bỏ ngành vi trùng học- sống đời thủy thủ và nhà thám hiểm- mở đầu một cuộc đời khác kéo dài 50 năm .


    Trước hết Yersin nhận lời làm bác sĩ cho một con tàu của công ty vận tải đường biển đến Viễn Đông. Sau 6 tháng hoạt động trên tuyến đường Sài Gòn-Manila (Philippin, Yersin chuyển sang làm việc trên tàu Sài Gòn chạy từ Sài Gòn đến Hải Phòng và ngược lại.

    Những tháng đầu tiên trong nghề hàng hải đối với Yersin thật quyến rũ! Yersin chưa từng tiếp xúc với biển cả nhưng trong thời thanh niên, Yersin đã quen với hồ Léman. Khi thuyền lênh đênh trên đại dương, Yersin nhìn lên bầu trời và học cách xác định tọa độ. Khi tàu cập bến, Yersin tập sự cùng kính thiên văn. Trong những năm sau, Yersin say mê thiên văn học và về sau tìm hiểu cả điện khí quyển, quang phổ mặt trời.

    Tàu chạy trên tuyến đường Hải Phòng-Sài Gòn, khi tiến lại gần bờ biển, lúc vượt sóng ra ngoài khơi. Dãy Trường Sơn hùng vĩ ở phía Tây hiện ra trước mắt Yersin gợi lên kỷ niệm tuổi học trò. Ngày ấy, Yersin đã cùng các bạn leo lên sườn núi Valais. Dãy Trường Sơn tuy không có những đường nét và màu sắc giống như dãy Alpes nhưng có những hấp dẫn kỳ lạ. Yersin muốn tìm lại những cảm giác thành thực và thân thiết khi khám phá được những điều bí ẩn, đặt chân lên miền đất lạ.

    Tháng 7-1891, Yersin cập bến Nha Trang. Ông lên bờ, đi dọc miền duyên hải đến Phan Rí và theo các con đường mòn vượt qua một ngọn đèo cao 1200 m gần Di Linh. Từ Di Linh ông định băng rừng đến Sài Gòn tìm ra con đường bộ nối liền Nha Trang với Sài Gòn, nhưng không kịp chuyến tàu đi Hải Phòng nên ông đành bỏ cuộc hành trình, xuống Phan Thiết dùng thuyền buồm ra Nha Trang.

    Chuyến thám hiểm đầu tiên ngắn ngủi này đã giúp nhà thám hiểm 30 tuổi làm quen với những khó khăn trên miền núi vùng nhiệt đới-với gió núi-mưa rừng- chịu đựng những con vắt hút máu người- vượt qua những con suối nước chảy như thác đổ… lần tiếp xúc đầu tiên với núi rừng Tây Nguyên cũng đã kích thích Yersin ham muốn thực hiện những chuyến thám hiểm khác.

    Ngày 29-3-1892, từ Nha Trang ra Ninh Hòa, tiến thẳng về hướng Tây đến Stung-treng trên bờ sông MêKông.

    Nhờ sự giúp sức của Pasteur và bộ trưởng giáo dục Pháp; năm 1893, Yersin thực hiện nhiệm vụ thám hiểm vùng núi nằm giữa bờ biển miền trung và sông Mêkông, vùng thượng nguồn sông Đồng Nai và Sêbangcan mà trước nay ít người biết đến. Rời Sài Gòn ông đã vượt qua thác Trị An đến Tánh Linh, vượt qua sông La Ngà đến Di Linh. Men theo một con đường mòn gần giống như con đường QL20 hiện nay. Ngày 21-6-1893, ông đến thác Prenn và sau đó đặt chân lên LangBiang.

    “Trên đường đi, cao nguyên nhấp nhô cao từ 900-1200 khoảng 15->20 km trước khi đến chân núi. Tôi đứng trên một vùng hoàng toàn tơ trụi và cây cỏ. Đất đồi mấp mô khiến tôi cảm giác như đang đi trên một đại dương xao động vì những ngọn sóng khổng lồ. Núi Langbiang đứng sừng sững ở giữa như một hòn đảo và hình như ngày càng xa dần khi tôi đến gần. Dưới chỗ trũng, đất màu đen và đầy than bùn. Những đàn nai lớn để yên cho chúng tôi đến gần vài trăm mét. Đàn nai vụt chạy ra xa rồi ngoái cổ lại tò mò nhìn chúng tôi”.

    Cuối năm 1893, Yersin lại lên cao nguyên Langbiang, thám hiểm cao nguyên Đắc Lắk-A Tô Pơ (Lào) và ngày 7-5-1894 về Đà Nẵng.
    Năm 1890, bác sĩ Albelt Calmette thiết lập chi nhánh viện Pasteur ở Sài Gòn.

    Năm 1894, bệnh dịch hạch lan tràn trên khắp miền Đông Trung Quốc. Bác sĩ Calmette đề nghị Yersin đi Trung Quốc nghiên cứu tại chỗ bệnh dịch hạch.

    Ngày 15-6-1894, Yersin đến Hồng Kông và gặp một đối thủ-bác sĩ Kitasatô đã đến Hồng Kông trước Yersin 3 ngày. Bác sĩ người Nhật này nổi tiếng về công trình khoa học tìm ra vi trùng uốn ván.

    Yersin dựng một túp lều tranh bên cạnh bệnh viện và làm việc trong điều kiện thiếu thốn. Chỉ sau 5 ngày làm việc, ngày 20-6-1894, ông đã tìm ra vi trùng bệnh dịch hạch. Qua hệ thống bưu điện của Anh, ông đã gửi những ống nghiệm trực trùng sang Pháp. Trực trùng bệnh dịch hạch đến Pasteur Paris nguyên vẹn và được xác minh, mang tên Yersin (Yersins Pestis).

    Năm 1895, Yersin thành lập viện Pasteur ở Nha Trang và điều chế huyết thanh chữa bệnh dịch hạch.

    Một năm sau, bệnh dịch tái phát ở Trung Quốc, Yersin lại sang Trung Quốc và cứu được nhiều người thoát khỏi căn bệnh hiểm nghèo đã giết 50 triệu người ở thượng cổ.

    Yersin trở về Nha Trang. Một cuộc đời bắt đầu, nhiều vấn đề đặt ra. Nhận thấy thành phố Nha Trang xây dựng trên một vùng cát trắng không tiện mở rộng những cánh đồng cỏ để nuôi ngựa dùng cho việc điều chế huyết thanh, ông khai phá vùng Suối Dầu- cách Nha Trang 10 km về hướng nam, thành lập một trại chăn nuôi và trồng trọt.

    Theo gương các bậc tiền bối, ông lao vào nghiên cứu huyết thanh trị bệnh dịch hạch cho trâu bò. Từ đó, viện Pasteur Nha Trang nghiên cứu vi trùng động vật và cả bệnh nhiễm trùng gia súc.

    Trong một chuyến dừng chân tại Malaixia và Inđônêxia, Yersin rất chú ý đến trồng cao su. Năm 1897, ông bắt đầu trồng cao su ở Suối Sầu và 8 năm sau (1905), hãng Michelia (Pháp) nhận được 1316kg mủ cao su đầu tiên. Quan tâm đến phương pháp trồng, khai thác và chế biến cao su, ông đã thiết lập một phòng thí nghiệm nông hóa. Tại đây, những biện pháp chọn giống, cạo mủ và làm đông mủ cao su được nghiên cứu có hệ thống đã giúp rất nhiều cho những người trồng cao su ở Đông Dương.

    Thời gian trôi qua… tại trại chăn nuôi và trồng trọt tại Suối Dầu ngày càng mở rộng, Yersin nhận chức viện trưởng 2 viện Pasteur ở Sài Gòn và Nha Trang.

    Năm 1902-1903, ông ra Hà Nội để thành lập trường đại học Yersin Đông Dương và làm hiệu trưởng đầu tiên.

    Năm 1924, ông giữ chức vụ Tổng Thanh Tra Các Viện Pasteur ở Đông Dương.

    Năm 1933, ông làm viện trưởng danh dự viện Pasteur ở Paris.

    Trong thời gian sống ở xóm Cồn (Nha Trang), ông là một người hàng xóm đôn hậu, thường giúp những cụ già và những người chài lưới, thương yêu trẻ con. Ông sống rất giản dị, giàu lòng nhân ái.


    Sau chuyến công du ở Ấn Độ, toàn quyền pháp Paul Doumer muốn xây dựng một nơi nghỉ dưỡng cho Pháp kiều như những nơi nghỉ dưỡng ở Ấn Độ. Yersin đề nghị nên chọn Đankia-cách Đà Lạt hơn 10km về phía tây bắc.

    Năm 1899, ông đã tháp tùng Paul Doumer lên Đà Lạt. Sau khi quan sát tại chỗ, Paul Doumer không chọn Đankia làm nơi nghỉ dưỡng nhưng chọn vị trí Đà Lạt hiện nay theo đề nghị của bác sĩ Emile Tardif vì :

    Đà Lạt ở độ cao hơn Đankia.

    Độ dốc của Đà Lạt thoai thoải-không khí của Đà Lạt hợp vệ sinh hơn ở Đankia-có những ngọn đồi nhỏ cách nhau bằng những thung lũng lầy lội.

    Không khí ở Đà Lạt mát lạnh và ít ẩm hơn ở Đankia vì Đankia nằm gần đỉnh langbian-sườn núi hứng gió ẩm-nhận lượng mưa nhiều hơn-sương muối nhiều hơn (đến 10g sáng sương mới tan).

    Về thực vật: Đankia chỉ toàn đồi nhỏ, trong khi Đà Lạt gần rừng thông, không khí vừa mát mẻ vừa thơm ngát hương thông.

    Về giao thông vận tải: Đà Lạt thuận tiện hơn Đankia.

    Năm 1914, chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Lúc bấy giờ, Hà Lan chiếm độc quyền sản xuất Quinine-phương thuốc duy nhất chữa bệnh sốt rét. Yersin gieo thử hạt Canh Ki Na ở Suối Dầu và Đankia. Ông gặp thất bại hoàn toàn ở Suối Dầu, nhưng Đankia cần tốn thêm nhiều công sức.

    Năm 1917, Yersin trồng cây Canh Ki Na ở Hòn Bà-một ngọn núi gần Suối Dầu. Lúc đầu cây tăng trưởng tốt nhưng chết vì đất đai không thích hợp.

    Tháng 7-1923 những cây Canh Ki Na tốt nhất ở Hòn Bà được đem lên trồng ờ Đrăn và thu được kết quả tốt. Ông tiếp tục trồng trên cao nguyên Langbiang nhỏ và Di Linh.

    Năm 1936, cây Canh Ki Na được trồng quy mô lớn ở Lán Tranh và Di Linh-thu hoạch được 30 tấn vỏ với tỷ lệ Quinine Sunfat 7,42%.

    Năm 1938, thu được 21 tấn vỏ với tỷ lệ Quinine Sunfat cao hơn (8,5%).
    Ngày 28-6-1935, trường trung học Yersin được khánh thành ở Đà Lạt. Yersin trở về Đà Lạt lần cuối cùng trước khi mất. Nhân dịp này, đáp lại lời phát biểu của một học sinh, ông đã trình bày cảm tưởng khi đặt chân lên cao nguyên Lanbiang: “không khí mát mẻ đã làm tôi quên đi mệt nhọc và tôi nhớ lại niềm vui được chạy hết tốc lực lên xuống những ngọn đồi như một học sinh trung học trẻ tuổi”.

    Trong những năm cuối đời, Yersin vẫn say mê nghiên cứu khoa học-Ngành Thiên Văn-Vô Tuyến Điện. Vài tuần trước khi mất, tuy bệnh ngày cành tăng, ông vẫn theo dõi mực thủy triều.
    Ngày 1-3-1943, Yersin thanh thản qua đời, hưởng thọ 80 tuổi để lại niềm thương tiếc sâu sắc. Hàng ngàn người dân Nha Trang đã đưa linh cửu ông đến nơi an nghỉ cuối cùng ở Suối Dầu.

    Đến Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ 19 và nửa đầu 20, Yersin đã làm việc trong bộ máy cai trị của thực dân pháp. Tuy nhiên, những công trình khoa học đa dạng-cuộc sống giản dị-lòng nhân ái và tình yêu Việt Nam của ông vẫn sống mãi trong tâm tư, tình cảm của người Đà Lạt-Nha Trang và trên hành tinh của chúng ta. Thủ đô Hà Nội-Thành Phố Hồ Chí Minh-Nha Trang đã đặt tên Yersin cho một con đường trong thành phố. Ở Đà Lạt, con đường dẫn đến trường trung học Yersin cũ hiện nay là (trường Cao Đẳng Sư Phạm) được mang tên nhà bác học Pháp-người đã mang nặng nghĩa tình Việt Nam và để lại những kỷ niệm khó quên ở Đà Lạt: Alexandre Yersin !

    Ba khu tưởng niệm bác sĩ Alexandre Yersin:

    - Thư viện của Bác sĩ Yersin tại viện Pasteur Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

    - Chùa Linh Sơn, xã Suối Cát, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa (phòng làm việc của Bác sĩ ở Suối Dầu trước đây).

    - Phần mộ của Bác sĩ Yersin, xã Suối Cát, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.

    Sau hơn 50 năm sống và làm việc vì khoa học ở Viện Pasteur Nha Trang (1891 - 1943) Yersin đã cống hiến cho khoa học 55 công trình nghiên cứu có giá trị.

    Các chức vụ ông đã đảm nhận:

    - Viện trưởng Viện Pasteur Nha Trang.
    - Viện trưởng Viện Pasteur Đông Dương.
    - Hiệu trưởng Trường Đại Học Y Khoa Hà Nội.
    - Tổng thanh tra các Viện Pasteur Đông Dương.
    - Viện sỹ Viện Hàn Lâm Khoa Học Pháp.
    - Chủ tịch danh dự Hội Đồng Y Khoa Viện Pasteur Paris.

  5. Bài thuyết minh tỉnh Khánh Hòa - Viện Hải Dương Học


    Viện Hải Dương Học

    Nằm trên đường Trần Phú, trên một khu đất cao ráo, rộng rãi, ngay cạnh cảng Cầu Đá, cách trung tâm thành phố 6km theo hướng Đông Nam, Viện Hải Dương Học được thành lập vào năm 1923, đồng thời với bảo tàng Hải Dương Học Nha Trang, là một trong những cơ sở nghiên cứu khoa học, viện nghiên cứu tiềm năng biển nhiệt đới, ra đời sớm nhất ở Việt Nam.

    Viện Hải Dương học Nha Trang được xem là cơ quan lưu giữ hiện vật và nghiên cứu biển lớn nhất Đông Nam Á với trên 11.000 tiêu bản về hải sản. Ngày 14 tháng 9 năm 1922, Sở Nghề Cá Đông Dương - tiền thân của Viện Hải Dương Học ngày nay đã được thành lập. Do nằm trên khu đất cao ráo, có vị trí rất thuận lợi để hình thành một viện nghiên cứu biển ở Việt Nam, bởi bờ biển Nha Trang thuộc loại sâu nhất, chứa đựng đầy đủ các tầng, các lớp và các loài động thực vật biển của vùng Đông Nam Á nên nơi đây được xem như là viện bảo tàng sinh vật biển, là nơi lưu trữ lớn nhất và đầy đủ nhất về các sinh vật biển ở Việt Nam. Tại đây có trên 20.000 mẫu vật của hơn 4.000 loài sinh vật biển và nước ngọt được sưu tầm, gìn giữ từ bao năm qua bên cạnh những sinh vật điển hình được nuôi thả trong bể kính.

    Trải qua hơn 80 năm hoạt động và phát triển, Viện Hải Dương Học đã đóng góp được một khối lượng lớn các công trình nghiên cứu cho công cuộc chinh phục khai thác và bảo vệ biển Đông, bao gồm 1100 ấn phẩm đã được công bố, trong đó nghiên cứu về tính đa dạng sinh học chiếm 62,6%, về vật lý hải dương chiếm 11,6%, về sinh thái môi trường chiếm 7,6%, về địa chất địa mạo biển chiếm 5,4%, về hóa học biển và về hóa sinh chiếm 4,4%. Qua đó, có thể thấy được Viện Hải Dương Học Nha Trang đã góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu khoa học của đất nước.

    Viện Hải Dương học có một bộ xương cá voi khổng lồ dài tới khoảng 18m, cao 3m, với 48 đốt sống được phục chế nhằm mục đích nghiên cứu khoa học và phục vụ du khách tới thăm viếng. Bộ xương này được tìm thấy ngày 8/12/1994 tại huyện Hải Hậu, tỉnh Hà Nam trong lúc đào mương làm thủy lợi và được đưa về trưng bày tại đây năm 1995. Bên cạnh đó, Viện còn trưng bày bộ xương bò biển (dugon) chết ngày 22/1/1997 tại bãi Lò Vôi (Côn Đảo) và được vườn quốc gia Côn Đảo chôn cất, bảo quản. Bộ xương dài 273cm, nặng 300kg, được Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và vườn quốc gia Côn Đảo tặng tháng 11/1997.



    BỘ SƯU TẬP NHỮNG SINH VẬT SỐNG
    Cá ngát: phân bố ở châu Phi, Ấn Độ, Hồng Hải, Malaysia, Philipin, Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam. Kích thước tối đa là 32 cm. Cá tìm thức ăn trong nền đáy nhờ những gai xúc giác nhỏ trên râu. Trên vây lưng và vây ngực cá còn có những chiếc gai rất nhọn mang độc tố, khi chích sẽ gây ra vết thương sưng tấy và đau nhức. Cá sống thành đàn. Khi gặp nguy hiểm, đàn cá cuộn lại thành một khối cầu to. Cá sơn đá: gặp ở tất cả các vùng biển nhiệt đới, kích thước tối đa là 32 cm. Đặc điểm: loài cá này chỉ hoạt động vào ban đêm, ban ngày cá ẩn nấp trong những khe đá, hang hốc. Cá có thể phát ra những tiếng “click” rất rõ (có lẽ để liên lạc với nhau). Cá chình: phân bố ở các vùng nhiệt đới và ôn đới, kích thước tối đa là 3m. Đặc điểm: cá hoạt động vào ban đêm, ban ngày chúng chui rúc trong các hang hốc hay vùi mình trong cát. Những con lớn có răng rất sắc nhọn, có thể tấn công người. Cá vệ sinh: phân bố ở Úc, Ấn Độ-Thái Bình Dương, kích thước tối đa 14cm. Đặc điểm: những loài cá dù to lớn hay hung dữ thế nào đi nữa thì đứng trước cá vệ sinh đều tỏ ra rất hiền lành, ngoan ngoãn. Chúng chuyên ăn các phần thịt thối rữa, làm sạch vết thương và ăn các loại ký sinh trùng bám trên mang, da, trong miệng các loài cá khác. Cá bò hỏa tiễn: phân bố ở Úc, Ấn Độ-Thái Bình Dương, kích thước tối đa là 60 cm. Đặc điểm: lớp da cá rất dày, miệng nhỏ nhưng có những chiếc răng rất khỏe nhờ đó có thể ăn được những sinh vật có vỏ cứng như cua, sò, cầu gai, vẹm… Lớp da dưới ngực cá có khả năng giãn ra làm cho kích thước cá tăng đáng kể để hăm dọa kẻ thù. Cá nó : phân bố ở biển Đỏ, Ấn Độ-Thái Bình Dương, kích thước tối đa là 90 cm. Đây là nguyên liệu chính để làm món “sushi fugu” rất được ưa thích tại Nhật. Tuy nhiên một số loài cá nóc mang độc tố tetrodotoxin cực mạnh, chỉ cần ăn phải một lượng rất nhỏ cũng có thể tử vong. Cá có thể phình to khi gặp nguy hiểm. Cá mặt quỷ: phân bố ở Úc, Ấn Độ-Thái Bình Dương. Cá có hình thức ngụy trang đặc biệt nên còn gọi là cá đá. Những chiếc gai trên lưng và hậu môn gây độc tố cực mạnh gây hôn mê thậm chí tử vong. Tuy nhiên thịt cá không có độc và lại rất ngon được xem là đặc sản. Hải sâm: rất rộng, có thể tìm thấy ở tất cả các vùng biển, ở mọi độ sâu. Khi bị tấn công nó phun ra hầu hết các phần nội tạng làm thức ăn cho kẻ thù, phần đã mất sẽ được tái tạo lại sau 20 ngày. Một số loài là thức ăn tốt. Tuy vậy, với nhiệm vụ nghiên cứu biển trong tương lai, Viện Hải Dương Học Nha Trang luôn luôn tăng cường đội ngũ cán bộ khoa học và cán bộ quản lý khoa học cả về hai mặt lượng lẫn chất với những trang thiết bị hiện đại nhất, để đáp ứng được nhiệm vụ hiện đại hóa đất nước. Viện Hải Dương Học được thành lập từ ngày 14 tháng 09 năm 1922 cho tới nay, qua gần một thế kỷ hoạt động và phát triển, Viện Hải Dương Học đã đóng góp được một khối lượng lớn các công trình nghiên cứu cho công cuộc chinh phục, khai thác và bảo vệ biển. Cùng với bao biến cố thăng trầm của lịch sử, các giai đoạn hoạt động và phát triển viện có thể được chia như sau: Sở Hải Dương Học Nghề Cá Đông Dương: (Service Océanographique des Pêches de l'Indochine) là cơ quan tiền thân của Viện Hải Dương Học Đông Dương được thành lập theo quyết định của Ngài Baudoin, Toàn quyền Đông Dương ký ngày 14/09/1922. Phương hướng nghiên cứu: nghiên cứu khảo sát các điều kiện tự nhiên và nguồn lợi cá để phục vụ cho nghề cá Đông Dương. Giám đốc: Tiến sĩ Armand Krempf, nhà nghiên cứu sinh học. Tiến sĩ Paul Chabanaud, nhà nghiên cứu ngư học. Tiến sĩ Constantin Nikolaevitch Dawydoff (người Nga) nhà nghiên cứu động vật không xương sống ở biển. Tiến sĩ Pierre Chevey nhà nghiên cứu ngư học. Tiến sĩ Henri Marcelet, nhà nghiên cứu hóa sinh học. Ông Nguyễn Công Tiêu, nhà nghiên cứu động vật giun nhiều tơ. Giai đoạn từ năm 1930 – 1952 Viện Hải Dương Học Đông Dương (L'Institut Océanographique de l'Indochine) được thành lập theo sắc lệnh của ngài Gaston Doumergue, Tổng thống nước Cộng hòa Pháp ký vào ngày 01/12/1929. Từ năm 1952, Viện Hải Dương Học Đông Dương được đổi tên là Viện Hải Dương Học Nha Trang (L'Institut Océanographique de Nha Trang), về sau đổi thành Hải Học Viện Nha Trang khi có quyết định của Chính phủ Pháp bàn giao cho Chính quyền miền Nam đương thời (1954). Tiến sĩ Raoul Sérène giữ nhiệm vụ vai trò cố vấn kỹ thuật cho đến tháng 03/1961. Thời gian này, đất nước chưa thống nhất, việc nghiên cứu biển mang tính chất khu vực. Viện Hải Dương Học Nha Trang hoạt động khó khăn trong điều kiện có chiến tranh nên phương hướng nhiệm vụ của viện chú trọng vào việc đào tạo cán bộ nghiên cứu biển có trình độ trên đại học và đại học cộng đồng và tổ chức những chuyến khảo sát biển ven bờ, cù lao gần và tập trung vào cộng tác xác định mẫu vật sắp xếp lại theo bộ môn, viết báo cáo về các khảo sát có tính ứng dụng. Tham gia khảo cứu vùng biển vịnh Thái Lan và miền Nam Việt Nam với Viện Scripps (Institution of Oceanography California) Hoa Kỳ trên tàu Stranger trong chương trình NAGA (1959-1960) và tham gia chương trình CSK (Cooper ative Study of Kuro shivo) (1965-1977) nghiên cứu ảnh hưởng của dòng Kuroshio. Trong khi đất nước chưa thống nhất, để khảo sát khu vực biển vịnh Bắc Bộ Chính phủ Việt Nam DCCH quyết định thành lập các tổ chức nghiên cứu biển: 1959 thành lập Đoàn Khảo sát Biển vịnh Bắc Bộ (điều kiện tự nhiên và nguồn lợi cá tầng đáy và gần đáy). 1961 thành lập Trạm Nghiên cứu Biển Hải Phòng trên cơ sở của Đoàn Khảo sát Biển. 1967 thành lập Viện Nghiên Cứu Biển Hải Phòng trên cơ sở Trạm Nghiên cứu Biển Hải Phòng. Sau khi Việt Nam thống nhất, Viện Hải Dương Học Nha Trang, Viện Nghiên Cứu Biển Hải Phòng được sát nhập thành một Viện thống nhất lấy tên là Viện Nghiên Cứu Biển Nha Trang, trực thuộc Viện Khoa học Việt Nam, nay là Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia. Đến năm 1993, Viện Hải Dương Học (L'Institut Océanographique) bao gồm tất cả các cơ quan nghiên cứu biển trên toàn quốc, viện được tổ chức thành một viện chính ở Nha Trang và hai phân viện ở Hải Phòng và Hà Nội.

    Giai đoạn từ năm 1922 -1930
    Cán bộ nghiên cứu khoa học chính :
    Giai đoạn từ năm 1952 -1975
    Giai đoạn từ năm 1959 – 1975
    Từ 1975- đến nay:

    Bài thuyết minh tỉnh Khánh Hòa - Chùa Long Sơn

  6. Chùa Long Sơn

    Tọa lạc trên đường 23/10, thuộc làng Phước Hải, phường Phương Sơn, thành phố Nha Trang, chùa Long Sơn là ngôi chùa có quy mô lớn nhất trong số hơn 20 ngôi chùa ở Nha Trang. Chùa nằm ngay trong nội thành Nha Trang, bên quốc lộ 1A, dưới chân hòn Trại Thủy.

    Chùa được hòa thượng Ngộ Chí, người Phú Yên, cho xây dựng năm Bính Tuất 1886 tại đỉnh đồi Trại Thủy, có tên là Đằng Long Tự. Ban đầu chùa được kiến tạo bằng vật liệu nhẹ, mái lợp tranh vách đất. Đến năm Canh Tý 1900, chùa bị bão sập, hòa thượng Ngộ Chí dời chùa xuống chân núi, tại vị trí hiện nay, sửa sang và lợp bằng ngói âm dương, rồi đổi tên là Long Sơn Tự. Cũng trong thời gian này, chùa được sắc phong “Sắc Tứ Long Sơn Tự”.

    Về núi Trại Thủy, dân gian gọi là Hòn Xưởng. Sách cũ ghi là Khố Sơn, tục danh là Hòn Kho. Những tên này biểu hiện mối liên hệ đến lịch sử. Núi Trại Thủy là một hòn đơn độc nằm ở địa đầu thành phố Nha Trang về phía Tây. Hòn núi này chỉ cao chừng 35m, dài 600m, giống một ngọn đồi dọc theo quốc lộ 1A, ở phía Bắc. Hình dáng giống như con dơi nằm xoè cánh, đầu hướng về phía Tây Nam. Người xưa gọi là “Ngọc bức hàm hoàn”. Triền phía sau có dốc ngược, toàn là đá hoa cương. Triền phía trước hơi lài, cũng bằng đá hoa cương nhưng có lẫn đất điệp. Trên núi không có cổ thụ và bàn thạch. Cảnh tượng khô khan, trơ trụi. Quang cảnh chung quanh núi rất đặc sắc. Đặc biệt là cảnh quan những vườn dừa nối liền nhau tưởng chừng như bất tận của các làng Lư Cấm, Ngọc Hội, Vĩnh Hội, Vĩnh Điền nổi bật dưới chân núi, trải một màu xanh mượt mà.

    Hòn Trại Thủy đứng giữa đất bằng nhưng không đơn độc. Theo các nhà địa lý, núi này thuộc hệ thống dãy Trường Sơn Tây nguyên. Còn các thầy phong thủy xưa cho rằng đây là Trấn Thủy khẩu của dãy núi Tây Diên Khánh. Long mạch phát khởi từ hòn Thị ở Diên Khánh, chạy ngầm dưới đất gần cửa sông Cù, đồi khởi thành cột trụ giữ linh khí cho cuộc đất Diên Khánh Vĩnh Xương.

    Khoảng giữa thế kỷ 18, nhà Tây Sơn thắng chúa Nguyễn, dinh Bình Hòa thuộc về nhà Tây Sơn. Đô đốc Trần Quang Diệu vào trấn Bình Hòa và nhận thấy Ninh Hòa không thể dụng binh bèn dời dinh Tổng trấn vào Diên Khánh, xây thành đắp lũy để chống với quân chúa Nguyễn ở mặt Nam, về đường bộ. Để chống giữ về mặt biển, Trần Quang Diệu lại cắt một đạo thủy binh xuống trấn miền duyên hải. Xét thấy Hoàng Mai Sơn (núi Trại Thủy) vị thế hiểm trở, bèn dùng làm căn cứ quân sự. Trên núi thì cất trại lính, dưới núi về mặt Bắc gần sông lại đóng xưởng cất thuyền, đóng kho chứa lương thực. Vì vậy, núi mới có tên là Trại Thủy hay Hòn Xưởng, Hòn Kho.

    Hòn Trại Thủy trước thời thực dân Pháp chiếm đóng là một hòn núi mọc toàn mai. Những khóm mai cổ thụ, cội cao tàng cả, mọc chen vào những tảng đá hoa cương to lớn. Mỗi lần xuân đến, hoa mai nở vàng cả mùa. Hết mùa, lá mai đậm và láng trùm lên núi một màu xanh lục lìa và anh ánh. Sang đông, lá mai rụng hết, núi trở thành một hòn trọc màu xám in những nét đen nhạt của những cảnh khúc khuỷu, những cội u nần của những khóm mai già rắn rỏi.

    Năm Canh Thìn 1940, chùa được đại trùng tu lại theo kiểu Á Đông gồm: tiền đường, hậu sảnh, Đông lan, Tây lan, tăng khách, tăng phòng, nhà bếp… Công trình này do đạo hữu Tôn Thất Quyền, hội trưởng Hội Phật học Khánh Hòa lúc bấy giờ chủ trương tổ chức. Năm Tân Hợi 1971, chùa tiến hành cuộc đại trùng tu lần 2 do Thượng tọa Thích Thiện Bình, Chánh đại diện Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa lúc bấy giờ chủ trương tổ chức theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Võ Đình Diệp. Đến năm 1975, công trình đã thực hiện được 60% so với đồ án đã thiết kế. Chiều ngang tiền đường chùa Long Sơn dài 44.5m, chiều dài từ tiền đường đến chân núi là 37.5m, chiều cao chánh điện là 17.5m.

    Trong điện thờ uy nghiêm bức tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bằng đồng lớn, nặng 700kg, cao 1.6m. Sau bức tượng là tấm gương lớn tượng trưng cho ánh sáng hào quang nhà Phật, và bức tượng Quan Âm Chuẩn Đề có nhiều tay, mỗi tay cầm một vật mà các vị Phật hay cầm.

    Bên hông trái chùa có đường lên núi Trại Thủy. Nơi đây, có tôn trí Kim Thân Phật Tổ là tượng Đức Phật Thích Ca tại đỉnh núi Trại Thủy. Tượng do Thượng tọa Thích Đức Minh và điêu khắc gia Bùi Văn Thêm, hiệu Phúc Điền, thực hiện vào 2 năm 1964 – 1965. Tượng quay về hướng Đông, có chiều cao từ mặt bằng lên 24m, phần tượng cao 14m, tư thế tọa thiền, uy nghi giữa nền trời. Từ đỉnh tượng đến sân trước cửa chùa cao chênh lệch 50m, nếu lên đến nơi tôn trí Kim Thân Phật Tổ phải leo 150 bậc thang ở sau chùa.

    Năm Bính Tý 1936, chùa được cúng cho Hội Phật học tỉnh Khánh Hòa để làm Hội quán Tỉnh hội. Liên tiếp từ đó đến nay, chùa là trụ sở của Giáo hội Phật giáo Khánh Hòa. Trong khuôn viên chùa có sự phối hợp hài hòa giữa công trình kiến trúc với cảnh quan thiên nhiên góp phần tạo nên cho Nha Trang một danh lam thắng cảnh nổi tiếng.

  7. Bài thuyết minh tỉnh Khánh Hòa - Hòn Chồng


    Hòn Chồng

    Là một thắng cảnh nổi tiếng của TP. Nha Trang, thuộc khóm Hòn Chồng, phường Vĩnh Phước.

    Trong tác phẩm “Xứ Trầm Hương”, Quách Tấn đã viết: “Ở Nha Trang, muốn đến Hòn Chồng thì có hai đường. Hoặc đến xóm Bóng mướn con thuyền nhỏ bơi ra hướng Bắc, để khai vị thú trời biển bao la. Hoặc theo con đường quốc lộ 1 đi ra khỏi Tháp Bà chừng một cây số rưỡi, rồi quẹo xuống ngõ tẻ qua xóm dừa nước ngọt bóng xanh. Chỉ trong giây lát là đến Hòn Chồng. Cách Tháp Bà Pônagar khoảng 1.500m theo hướng Đông Bắc là một thắng cảnh thiên nhiên: Hòn Chồng – Hòn Vợ. Đó là hai khóm đá lớn, một nằm phía Bắc, nửa chìm nửa nổi được gọi là Hòn Chồng; một là nhóm nhỏ hơn, nằm dưới biển, ở chân đồi phía Đông là Hòn Vợ, thuộc phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

    Hòn Chồng là một quần thể các khối đá lớn nhỏ, đa hình đa dạng xếp chồng lên nhau như có bàn tay tạo hóa sắp đặt, tạo dựng trong một trò chơi xếp hình tinh nghịch. Có những khối đá rất lớn trên những khối đá nhỏ hơn, trông rất chênh vênh, hờ hững. Đá một màu xanh xám, lớp chìm dưới nước, lớp nổi lên mặt sóng, lớp nằm giăng hàng, lớp chồng lên nhau. Từ trong bờ, đá chạy lúp xúp ra ngoài khơi, đồi đột khởi lên một tảng đá vừa cao vừa rộng, trông như một cái gò, dáng bằng phẳng. Lạ nhất là trên tảng đá này lại có một khối đá lớn như một ngôi nhà cao tầng nằm trên mỏm cao nhất, bề mặt tương đối bằng phẳng hướng ra biển có in dấu một bàn tay khổng lồ hằn sâu trong đá, như thuở mới tạo sơn, đã có một bàn tay khổng lồ nào bấu vịn vào để lại dấu vết đến ngày nay.

    Trên đường xuống Hòn Chồng là một khối đá vuông ví như được ném xuống từ trời cao bị kẹt giữa hai khối đá khác, điều này vô tình tạo nên một chiếc cổng đá tựa như cổng thành cổ xưa và làm thành một lối đi lớn. Về dấu bàn tay khổng lồ có đủ 5 ngón ở mặt phía Đông của tảng đá, có một sự tích dân gian kể lại như sau:

    Vào thời xa xưa, các tiên nữ trên trời thấy cảnh giới nơi này đẹp nên thường kéo nhau xuống chơi. Một lần, các tiên nữ xuống tắm ở suối, thích thú, đùa giỡn làm vang động cả một vùng. Khi ấy, có một người khổng lồ từ phương xa đến xứ này ngoại cảnh, ông dừng lại say sưa ngắm nhìn, vô tình trượt chân ngã, ông vội bám víu vào những mô đá bên sườn núi. Sườn núi không chịu nổi sức mạnh của ông khổng lồ nên đổ sụp cả sườn núi. Đá núi ào ào sụp lở và đổ văng ra tận cửa biển, tạo nên Hòn Chồng ngày nay. Khối đá lớn ông khổng lồ bám vào còn in hằn cả bàn tay. Dấu chân trượt ngã cũng với đủ năm ngón lún vào đá thì để lại dấu tích ở Suối Tiên.

    Truyền thuyết khác nói về Hòn Chồng:

    Cụm đá lớn ở ngoài biển gọi là Hòn Chồng, gồm một khối đá lớn vuông vức nằm trên một tảng đá bằng phẳng và rộng hơn, phía mặt đá quay ra biển có một vết lõm hình bàn tay rất lớn. Tục truyền rằng, thuở xưa ông khổng lồ ngồi câu cá nơi đây, có một con cá cũng khổng lồ cắn câu lôi đi, ông phải kéo lại, tay cầm cần câu, tay tì vào tảng đá lấy đà khiến bàn tay ấn vào đá và để lại dấu như đã thấy.

    Lại cũng có thêm một truyền thuyết khác nói về Hòn Chồng: Xưa kia, nơi đây vốn còn những vách đá cao và dựng đứng. Một ngày nọ, có một chiếc thuyền của đôi vợ chồng trẻ bị sóng to gió lớn đánh trôi dạt vào cửa biển này. Sóng xô thuyền đụng vào vách đá vỡ tung. Sóng lớn cuốn lôi người vợ ra xa. Người chồng vội lao ra kéo người vợ vào nhưng sóng càng lúc càng mạnh. Người chồng một tay dìu vợ, một tay bám được vào vách đá. Vốn đã chênh vênh muốn đổ, nay lại thêm sức mạnh của người chồng bám vào nên vách đá đổ ào xuống biển và nhấn chìm cả đôi vợ chồng trẻ bất hạnh. Họ chết đi nhưng dấu bàn tay của người chồng còn hằn sâu trong đá và giữ mãi với thời gian.

    Những tảng đá nơi Hòn Vợ cũng lớn chồng lên nhau, lớp giăng hàng như cảnh Hòn Chồng. Tại Hòn Chồng, đá thường bị sóng cọ mài nên phần nhiều trơn liền, tròn trịa. Còn đá nơi Hòn Vợ nhiều góc cạnh và phần nhiều hình khối lăng trụ. Đá Hòn Chồng thường nằm chồng lên nhau. Còn đá tại Hòn Vợ lại nằm khắng khít bên nhau một cách âu yếm.



  8. Chợ Đầm Nha Trang

    Một khu chợ đông vui, lại có một công trình kiến trúc đẹp, khá độc đáo ở trung tâm chợ như chợ Đầm Nha Trang rất đáng được du khách bốn phương biết đến trước khi chia tay, tạm biệt thành phố biển xinh đẹp, mến khách này.

    Gọi tên chợ Đầm vì chỗ đất dựng chợ ngày nay trước kia vốn là một cái đầm từ cửa sông Cái ăn sâu vào đất liền, phía dưới Hà Ra. Đầm rộng khoảng hơn 7 ha, hai bên bờ đầm là nhà ở của nhân dân, hầu hết là dân nghèo với những ngôi nhà lụp xụp, chen chúc nhau. Phía cuối đầm, giáp đầu đường Phan Bội Châu bây giờ là một ngôi chợ cũ được xây cất vào khoảng năm 1908, thường gọi là chợ Đầm hay chợ Cửa (chỉ nơi cửa sông). Dần dần với số dân gia tăng của thành phố, khuôn khổ chợ cũ không còn thích hợp, việc phát triển buôn bán và phát triển nhà ở ngày càng lộn xộn, chật hẹp kém mỹ quan và thiếu vệ sinh, thậm chí gây nhiều dịch bệnh cho thành phố. Trước tình hình đó, việc quy hoạch lại khu chợ này trở nên cấp thiết.

    Năm 1961, Ty Kiến thiết Khánh Hòa lập một dự án đại cương về quy hoạch lại khu vực chợ này, xây một ngôi chợ hình tròn thay thế cho chợ cũ. Đồ án sơ bộ này do Kiến trúc sư Lê Anh Kim phác họa.

    Năm 1964, Tổng nha Kiến thiết lập một đồ án khác do Kiến trúc sư Lê Quý Phong đề xuất, phần chính của đồ án là xây cất một ngôi chợ tròn có mái xếp và một nhánh hình cánh cung. Chính đồ án này được coi là cốt lõi cho việc xây cất ngôi chợ sau này.

    Cả hai đồ án chưa được thực hiện thì đêm 16-9-1968 xảy ra vụ hỏa hoạn lớn chưa từng có: 126 ngôi nhà bị cháy rụi. Tình thế trở nên cấp bách: Một đồ án xây dựng khu vực chợ với quy mô mới, toàn diện hơn được hình thành, có sự phối hợp của nhiều ngành hữu trách: lấp toàn bộ đầm, xây cất ngôi chợ mới cùng hai thương xá và chung cư, làm lại đường sá, hệ thống cống rãnh thoát nước.

    Ngày 12-4-1969 được coi là ngày khởi sự đầu tiên của kế hoạch này với việc chiếc xáng Bassa của Nha Thủy vận Sài Gòn bắt đầu thổi cát lấp đầm. Sau 6 tháng, đầm đã bị lấp hoàn toàn với khối lượng cát đã thổi là 350.000m3. Tiếp theo là việc tạo móng, dựng nền và xây cất công trình, hàng nghìn cọc bê tông cốt sắt dài 20m đã được đóng xuống qua lớp sình lầy.

    Dựa theo đồ án của kiến trúc sư Lê Quý Phong được thiết kế từ hơn 4 năm trước, các Kiến trúc sư Hồ Thăng, Võ Đình Hiệp, Kỹ sư Nguyễn Xuân Phương cải tiến và bổ sung thêm một số chi tiết. Ngôi nhà chính ở trung tâm chợ được xây cất theo hình tròn, mái xếp thành hình chữ V tượng trưng cho bông sen và những cánh sen, đường kính của ngôi nhà 66,5m, có một tầng lầu hình vành khăn, lệch tâm. Diện tích cả tầng trệt và tầng lầu rộng tới 5.270m2, có thể cùng lúc chứa được trên 3.000 khách ra vào mua bán. Hỗ trợ và phối cảnh với ngôi nhà tròn là hai tòa cao ốc 4 tầng A và B, tầng trệt là thương xá, các tầng trên là chung cư được xây cất theo đường lượn cong bao bọc vành ngoài ngôi nhà tròn, mỗi cao ốc đều có diện tích trên 2.500 tới trên 2.800m2, thiết kế thoáng, trang nhã. Hai cao ốc này được khởi công xây dựng đầu năm 1970 và hoàn thành vào cuối năm 1972. Ngôi nhà tròn và toàn bộ khu chợ được hoàn thành, đưa vào khai trương sử dụng năm 1974.

    Tiếc thay, thời gian sử dụng chưa được bao lâu thì những ngày cuối tháng 3-1975, trước sức tiến công và nổi dậy của quân và dân ta, bọn tàn quân ngụy rút chạy từ Tây Nguyên và các nơi khác đổ về đã ngang nhiên cướp phá chợ Đầm, phóng lửa đốt chợ. Ngôi nhà tròn như một bông sen lớn mới nở giữa lòng thành phố bị xám đen, sập đổ hư hỏng nặng, không sử dụng được nữa. Chợ Đầm vẫn tiếp tục nhóm họp nhưng mỹ quan và trật tự bị giảm sút nhiều. Một kế hoạch tu sửa lại toàn bộ ngôi nhà tròn và quy hoạch tổng thể khu chợ được xây dựng và triển khai với sự tham gia của Viện Thiết kế xây dựng và Ty Xây dựng tỉnh. Ngày 3-2-1980, nhân kỷ niệm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và mừng xuân Canh Thân, lễ chính thức khai trương Cửa hàng Bách hóa tổng hợp Chợ Đầm với diện tích sử dụng là toàn bộ hai tầng của ngôi nhà tròn được sửa chữa lại khang trang và đẹp đẽ hơn xưa được tổ chức trọng thể với nhiều quan khách trong và ngoài tỉnh cùng hàng ngàn đồng bào tham dự.

    Ngày nay, ai đã có dịp đi trên máy bay từ thủ đô Hà Nội vào Nha Trang, từ trên nhìn xuống, cả thành phố như một lẵng hoa lớn đặt bên bờ biển xanh sẽ nhận ra trong lẵng hoa đó có một bông sen đang nở, đó chính là chợ Đầm Tròn và vị trí bông sen là điểm gần giữa đầm mấy chục năm về trước. Năm 1985, trong một cuộc triển lãm ảnh nghệ thuật với đề tài Nha Trang - Huế - Cần Thơ, di tích và thắng cảnh do Hội Văn nghệ của 3 địa phương phối hợp tổ chức, một trong những bộ ảnh được đông đảo người xem, đặc biệt là những người dân Nha Trang rất chú ý và được tặng thưởng của Ban tổ chức là bộ ảnh 3 chiếc chụp cùng ở một vị trí, góc độ nhưng ở ba thời điểm cách xa nhau: 1960, 1980 và 1985 của một nhóm tác giả chụp về quang cảnh chợ Đầm xưa và nay.

    Bài thuyết minh tỉnh Khánh Hòa - Hòn Tằm
  9. Hòn Tằm

    Vị trí: Phía Nam vịnh Nha Trang cách bờ 7km.

    Vùng đảo biển Nha Trang thật hấp dẫn với một loạt các hòn đảo như hòn Tằm, hòn Mun, hòn Dung, hòn Tre, hòn Miếu, hòn Thị, hòn Hèo, hòn Chồng và các đảo khác… Nằm trong vùng vịnh thuộc dự án khu bảo tồn biển Hòn Mun, hòn Tằm có lợi thế là khá gần với trung tâm thành phố Nha Trang. Từ bến tàu dưới chân biệt điện Bảo Đại, để đến đảo chỉ cần khoảng chưa đầy 15 phút bằng thuyền máy, và khoảng 5 phút bằng canô cao tốc. Có thể đi Hòn Tằm và trở về bất cứ lúc nào, kể cả trong đêm.

    Hòn Tằm có diện tích hơn 130ha. Tại đây không có dân cư sinh sống. Trong bất cứ mùa nào, hòn Tằm vẫn lặng gió, mặt nước biển êm như mặt hồ. Nơi đây còn nguyên vẹn vẻ hoang sơ của thiên nhiên với thảm rừng nhiệt đới tươi xanh rợp mát bốn mùa. Bờ cát dài uốn lượn như nàng tiên cá đang phô diễn nét mịn màng của tạo hóa bên ngàn trùng sóng vỗ êm dịu suốt ngày đêm. Phía dưới, những ghềnh đá nhấp nhô là làn nước xanh như pha lê với hàng trăm loài cá tụ tập thành đàn tung tăng trẩy hội len lỏi trong những rặng san hô trăm hồng nghìn tía đua nhau khoe sắc. Tất cả đều huyền ảo và vô cùng thơ mộng.

    Nhìn từ xa, Hòn Tằm tựa như một con tằm với “sân chơi” là cả một vùng biển được bao quanh bởi hòn Tre, hòn Một, hòn Miễu (có hồ cá Trí Nguyên) nên thuận gió và tương đối ít sóng, là nơi lý tưởng cho các loại hình vui chơi trên biển: dù bay, lướt ván, thuyền buồm, môtô nước, chèo thuyền, câu cá, phao chuối…

    Hiện nay, trên đảo có cơ sở dịch vụ du lịch được xây dựng tập trung thành hai khu: Khu A – được xây dựng trước – với nhiều dịch vụ, kể cả phòng nghỉ, giá cả có phần “mềm” hơn; Khu B – mới đưa vào kinh doanh từ năm 2001 – với một nhà hàng và các nhà nghỉ độc lập nằm dưới chân đảo, gần bãi tắm với cảnh quan đẹp, yên tĩnh, thích hợp cho các nhu cầu nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng.

    Đến đây, du khách được lắng mình trong một không gian yên tĩnh, chỉ có tiếng sóng biển ngày đêm rì rào ôm quanh bờ đảo, tiếng gió lướt trên các rặng cây và ghềnh đá cùng muôn vàn chim biển chao chát, chấp chới trong những buổi bình minh hay hoàng hôn. Thảm rừng nhiệt đới trên đảo xanh tươi bốn mùa không những phong phú về giống loài thực vật mà còn là nơi ẩn mình của khá nhiều loài chim muông. Dưới chân đảo là các bãi tắm đẹp có độ dốc thoai thoải, chạy dài 400 m và uốn lượn phô mình trong làn nước trong, xanh biếc một mầu.

    Hòn Tằm còn kỳ thú, lôi cuốn du khách bởi hệ động, thực vật biển phong phú. Tại mũi đảo, nơi những ghềnh đá nhấp nhô là rặng san hô. Hàng trăm loài cá đã quy tụ về đây thành từng đàn, tung tăng, len lỏi trong rặng san hô và thảm thực vật đại dương, tạo nên một cảnh sắc thật thơ mộng.

    Trong khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, các công trình kiến trúc du lịch được thiết kế hài hòa, phù hợp cảnh quan, chính là những điểm nhấn đặc sắc, làm tăng thêm vẻ đẹp của hòn đảo. Khuất dưới rặng cây xanh và những vườn hoa, hàng dừa là hệ thống nhà nghỉ cao cấp, hướng mặt ra biển đón gió trời và ánh sáng, đồng thời tạo tầm nhìn bao quát, giúp du khách chiêm ngưỡng phong cảnh bao la, bát ngát của biển, trời. Cạnh đó, dọc theo bờ biển là những chòi cá ẩn hiện, thấp thoáng cùng các nhà nghỉ được thiết kế bằng tre, nứa, lá cho du khách dừng chân và nếu thích thì có thể nghỉ lại qua đêm.

    Ngoài việc tham quan, tắm biển, nghỉ dưỡng, phục hồi sức khỏe, đến khu du lịch Hòn Tằm, du khách còn có dịp được tham gia những hoạt động thể thao bóng đá, bóng chuyền trên cát hoặc các loại hình giải trí như leo núi, thám hiểm rừng cây, đi xe đạp vòng quanh đảo, chèo xuồng, bơi thuyền buồm, câu cá và theo ngư dân tham gia những tour săn bắt dưới nước. Khu du lịch mới khai trương các môn thể thao cảm giác mạnh thể hiện lòng can đảm: lướt ván, bay dù, mô-tô nước và lặn biển khám phá thế giới đại dương. Khi hoàng hôn buông xuống, du khách có thể hòa mình trong thiên nhiên với tour "Đêm trên đỉnh Hòn Tằm". Sau một buổi leo núi, khách thật sự sảng khoái bên đống lửa trại bập bùng, được ca hát, vui chơi giữa lồng lộng gió trời và tiếng sóng biển, cùng nhau thưởng thức những món ăn đậm hương vị mặn mòi của biển và vui bên ché rượu cần, trong tiếng nhạc, lời ca, điệu múa cổ truyền dân tộc.

    Trong mười năm trở lại đây, với vị trí thuận lợi, nằm giữa tuyến du lịch đảo của Khánh Hòa, lại được công ty cung ứng tàu biển thương mại và du lịch Nha Trang đầu tư xây dựng và tạo dựng các sản phẩm hấp dẫn, khu du lịch Hòn Tằm đã trở thành điểm dừng chân của hầu hết các tour thăm vịnh Nha Trang. Năm 2004, gần 300 nghìn lượt khách đã đến vui chơi tại đây, doanh thu đạt gần 12 tỷ đồng. Từ đầu năm đến nay, khu du lịch đón hơn 100 nghìn lượt du khách và số lượng khách quay trở lại chiếm tỷ lệ rất cao. Đây là kết quả của quá trình khai thác hiệu quả những tiềm năng thế mạnh biển đảo và tạo dựng nhiều sản phẩm vui chơi, giải trí cùng các loại hình dịch vụ chất lượng cao.

    Theo các nhà quản lý, sắp tới khu du lịch sẽ hoàn thiện một con đường vòng quanh núi để tạo một tour đạp xe địa hình bên cạnh tour leo núi đã có, đồng thời mở rộng mô hình chăn nuôi một số loài chim, thú để du khách săn bắn. Không ngừng sáng tạo và đổi mới, đó là phương châm để khu du lịch là điểm đến được du khách ưa thích nhất của Nha Trang - Khánh Hòa.

    Đến với khu du lịch Hòn Tằm chúng tôi một trong những điểm đến được hài lòng nhất năm 2004; do người tiêu dùng bình chọn. Bạn sẽ được phục vụ tận tình chu đáo.

    Chúng tôi có 3 nhà hàng đủ sức chứa 1.000 khách cùng một lúc với những món ăn từ dân dã đến hải đặc sản cao cấp. Bạn có thể lựa chọn cho mình 1 thực đơn hợp với khẩu vị với mức giá từ 25.000đ đến 200.000đ/khách. Nếu Bạn muốn tham gia trò chơi cảm giác mạnh - Chỉ với từ 120.000đ đến 200.000đ/người bạn sẽ được như ý cùng lặn thám hiểm biển, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Hòn Tằm từ trên cao trên những chiếc dù bay hoặc có thể đua tốc độ cùng với những con sóng trên chiếc Jestki. Bạn có thể chơi bóng chuyền bãi biển, đua xuồng Kayak, leo núi hoặc nằm dài trên những chiếc ghế ngắm mây trời và sóng biển.

    Liên hệ:
    Khu Du lịch Hòn Tằm
    Địa chỉ : 72 Trần Phú - Nha Trang
    Điện thoại : (84-58) 829100/ 821418; Fax: 829100/ 821418
    E-mail: hontamresort@dng.vnn.vn
    Website : http://www.hontamresort.com.vn











    1.  
      Con Sẻ Tre

      Nằm trải dài ở phía Nam đảo Hòn Tre (Nha Trang), khu du lịch "Con Sẻ Tre" đang là nơi thu hút rất đông du khách đến tham quan nghỉ ngơi.

      Dưới bàn tay tài hoa của kiến trúc sư, những vật liệu thô sơ giản dị như tranh, tre nứa, lá đã trở thành những đường nét chấm phá độc đáo cho khu du lịch "Con Sẻ Tre". Từ quầy tiếp tân được thiết kế bằng nguyên liệu chính là tre đan xếp vào nhau, khu nhà trọ mái lợp lá cọ thoáng mát tới đường đi tất cả đều ẩn chứa nét thôn quê. Ngay lúc tàu du lịch cập bờ, chiêng trống đã dồn vang chào đón, các nhân viên trong trang phục mớ ba mớ bẩy, khăn xếp áo the niềm nở đón khách. Qua quầy lễ tân, men theo những con đường rải đá cuội, bạn sẽ được chiêm ngưỡng một bãi tắm khá đặc biệt với những lều tắm thiết kế theo hình ảnh 12 con giáp. Trên mỗi vách lều là những bức tranh Đông Hồ màu sắc tươi tắn: Hứng dừa, Đánh Ghen, Đám cưới chuột...sinh động trên nền giấy điệp. Bên cạnh đó, Ban quản lý khu du lịch còn tổ chức các trò chơi dân gian như: ô ăn quan, chọi gà, cờ tướng nhằm giới thiệu cho du khách nét sinh hoạt văn hóa của người Việt. Sau khi tắm biển, nghỉ ngơi thư giãn, du khách còn có cơ hội thưởng thức các món ăn dân dã như canh cua rau đay, cá kho tương, thịt kho tộ...điều đặc biệt là các món ăn này được trưng bày trong những chiếc bát, đĩa gốm Bát Tràng khiến bữa cơm của du khách thêm hấp dẫn.

      Thăm khu du lịch "Con Sẻ Tre", bạn sẽ được tận hưởng khung cảnh thôn quê thanh bình như lạc vào một ngôi làng cổ kính nhưng lại mang hơi hướm hiện đại của gió, nắng, biển xanh mát.

      Quả thật những thú vị liên tiếp diễn ra và không thể có những sự buồn chán tại thành phố biển này, bữa ăn tạo nên không khí ấm cúng với những tách trà nóng khiến cho chúng tôi quên đi cơn mưa vùa rồi, bữa ăn kết thúc cũng là lúc bọn tôi ùa ra tham quan chụp hình với những bụi tre trải dài dẹp như một giấc mơ. Sau đó chúng tôi rời đảo lên tàu trở lại bờ tham quan Viện Hải Dương Học với cái tên quen thuộc của người sáng lập bác sĩ Alexandre Yersin.

      Đồng Đế: Một trung tâm huấn luyện miền Trung của quân đội miền Nam được thành lập vào năm 1956, chuyên đào tạo các hạ sĩ quan bộ binh. Sau năm 1975, Đồng Đế trở thành doanh trại Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Đồng Đế nằm sau núi Cô Tiên.

      Đảo Khỉ: Trên đảo, trước kia người ta nuôi khỉ để thí nghiệm, điều chế vacxin hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô. Sau khi Liên Xô tan vỡ đàn khỉ bị bỏ hoang, không ai trông nom. Ngày nay, khỉ nuôi không còn dùng cho mục đích này nữa mà dành cho mục đích du lịch. Giờ khỉ sống trên đảo như một môi trường tự nhiên. Nếu có dịp tham quan trên Đảo khỉ hay Hòn Lao du khách sẽ thích thú với những màn xiếc thú vui nhộn, bãi biển sạch, không khí trong lành.

      Vinpearland

      Khởi nghiệp vào năm đầu tiên của thế kỷ 21, lựa chọn đảo Hòn Tre hoang sơ nghèo khó làm điểm xuất phát để đầu tư, với nhiều doanh nghiệp đó là sự mạo hiểm… nhưng với Vinpearl đó là sự đầu tư có trí tuệ. Qua gần 10 năm xây dựng, trưởng thành, với định hướng đúng đắn cùng khát vọng tiên phong, Vinpearl đã vượt qua mọi khó khăn, tự tin khẳng định mình, trở thành thương hiệu nổi tiếng trong nước và quốc tế về du lịch, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí.

      Hiện nay, Vinpearl được đông đảo du khách trong nước và quốc tế biết đến qua chuỗi sản phẩm và dịch vụ đẳng cấp bao gồm: Vinpearl Nha Trang (Vinpearl Resort Nha Trang, Vinpearl Land, Vinpearl Luxury Nha Trang, Vinpearl Golf Club); Vinpearl Luxury Đà Nẵng; Vinpearl Resort Hội An

      Trong tương lai, Vinpearl sẽ tiếp tục đầu tư một cách bài bản và có hiệu quả vào lĩnh vực hạ tầng du lịch, bất động sản và phương tiện vận chuyển, mà trước hết là chuỗi dự án khu du lịch nghỉ dưỡng đẳng cấp bao gồm: Vinpearl Hội An, Vinpearl Đà Lạt, Vinpearl Hồ Chí Minh City, Vinpearl Hà Nội…; phấn đấu trở thành một thương hiệu du lịch, nghỉ dưỡng mang tầm quốc tế, trở thành cánh chim đầu đàn của ngành Du lịch Việt Nam.

      Phương tiện

      Ngoài những phương tiện đi lại như canô ta-xi, tàu cao tốc và phà, khách tham quan còn có thể sang đảo Hòn Tre bằng hệ thống cáp treo dài 3320 mét, cáp treo vượt biển dài nhất Việt Nam với 9 cột trụ trên biển và đất liền có hình dáng và cấu trúc giống tháp Eiffel, vào ban đêm sẽ được thắp sáng bằng laser. Hệ thống này có thể chuyên chở 1000-1500 người một giờ, giúp cho việc qua lại giữa đảo và đất liền được dễ dàng hơn.

      Tuyến cáp treo Vinpearl Land là một tuyến cáp treo vượt biển vịnh Nha Trang dài 3320 m, nối Nha Trang với khu du lịch Hòn Ngọc Việt trên đảo Hòn Tre. Đây là tuyến cáp treo vượt biển dài nhất thế giới và cũng là cáp treo chứa được nhiều người nhất trên 1 cabin (8 người)

      Được đánh giá là một trong những tuyến cáp treo vượt biển dài nhất thế giới[2]. Cáp treo Vinpearl Land được khởi công xây dựng vào tháng 4 năm 2006 và khai trương vào ngày 10 tháng 3 năm 2007. Tuyến cáp này dài 3,32 km, điểm cao nhất là 54 m với chiều cao trung bình là 45 m so với mặt nước biển. Tuyến được nối với nhau bởi bảy trụ trên biển, hai trụ trên bờ và hai nhà ga đặt tại hai đầu Nha Trang và Hòn Tre. Sự thông suốt vận chuyển được đảm bảo nhờ 47 cabin 8 chỗ, rút ngắn thời gian di chuyển còn 9 phút 20 giây và có thể hoạt động ở điều kiện gió cấp 7.

      Theo thiết kế, cáp treo có 65 cabin, có thể phục vụ 1500 lượt khách/1 chiều mỗi giờ. Mỗi cabin sẽ vượt qua đoạt đường biển giữa Nha Trang và đảo Hòn Tre trong gần 9 phút 20 giây. Toàn bộ tuyến có 9 trụ (cái cao nhất 54,65m, thấp nhất 7,96m). Cáp chịu được sức gió cấp 7, chi phí bồi thường tối đa cho 1 tai nạn xảy ra trên 1 cabin là 12 tỉ đồng. Công trình được khánh thành ngày 10 tháng 3 năm 2007.

      Lịch hoạt động: Từ 8h - 22h00 các ngày trong tuần

      Bến phà

      Đón khách từ đất liền tới Vinpearl Land dài khoảng hơn 2 hải lý và đi phà phải mất tới 20 phút (6 hải lý/tiếng).

      Lịch chạy phà: 8h00 - 22h30

      Tàu cao tốc

      Đón khách từ đất liền đi tới Vinpearl Land mất 7 phút bằng tàu cao tốc (17 hải lý/tiếng). Lịch hoạt động:24h/24h (30 phút /chuyến)

      Khu trò chơi

      Trò chơi ngoài trời

      Vũ trường Exotica Đu quay cảm giác mạnh
      Đu quay thú nhún
      Đu quay con voi
      Đu quay dây văng
      Tàu lượn cao tốc

      Trò chơi trong nhà

      Phim 4 chiều,
      Trò chơi ảo
      Vườn cổ tích
      Xe đụng
      Thiên đường trẻ em
      Trò chơi điện tử
      Cưỡi bò tót

      Ngoài ra còn có:
      Thủy Cung, Công viên nước, Các tiện nghi khác
      Phố mua sắm
      Trung tâm hội nghị và biểu diễn đa năng
      Làng ẩm thực
      Khu sân khấu nhạc nước và biểu diễn ngoài trời
      Vũ trường Exotica

      Đèo Rọ Tượng

      Qua cầu Suối Tre là tới đèo Ro Tượng. Đèo dài hơn 1km trước đây vua Quang Trung chọn nơi này làm nơi huấn luyện tượng binh trên đường tiến quân vào nam chinh phạt quân Nguyễn Ánh và bè lũ nên mới có tên là như vậy .
      Ngay đèo Cổ Mã quẹo phải đi vào 18 cây số chúng ta sẽ vào trong rừng Văn Phong, nơi đây có bãi tắm Xuân Đình vịnh Văn Phong , KDL Đầm Môn rất nổi tiếng.

      Ngã ba Ninh Hòa

      Đây là khu vực vựa lúc chính của tỉnh Khánh Hòa, nhưng cũng chính là nơi dễ bị ngập lụt nhất, đoạn đường này thường hay bị tắt nghẽn vào mùa mưa lũ. Đặc sản nổi tiếng là nem Ninh Hòa với chất xúc tác lên men là lá cây chùm ruột. Nếu rẽ trái là QL29 đi Buôn Ma Thuột dài 146km.

      Trường Sa

      Quần đảo Trường Sa nằm ở phía Đông Nam nước ta, ở giữa biển Đông trong khỏang từ kinh độ 111030’ đến 117020’ Đông và vĩ độ 605’ đến 120 Bắc. Toàn bộ quần đảo gồm trên dưới 100 hòn đảo và cồn, bãi trải rộng trên một vùng biển ước chừng 16 đến 18 vạn km2, trong đó có 23 hòn đảo và cồn, bãi thường xuyên nhô lên khỏi mặt nước.

      Từ Nha Trang ra thăm quần đảo Trường Sa thì hòn đảo đầu tiên nên đến là Song Tử Tây.

      Song Tử Tây cách bờ biển Khánh Hòa khoảng 450 km, được hải quân nhân dân Việt Nam giải phóng vào 4 giờ sáng ngày 14/4/1975. Đảo này dài khoảng 700m, rộng khoảng 300m.

      Bề mặt đảo được phủ một lớp sâm nam xanh mượt. Sâm nam thì gần như đảo nào cũng có đó là một loại cây bò trên mặt đất, ngọn cất cao, hoa lấm tấm màu vàng, nhỏ hơn hoa cải hạt như hạt vừng, khi già tách ra bay theo gió, nhân giống ra kín đáo.

      Củ sâm nam to, dài, phía cuối tẻ ra như đôi chân cắm vào lòng đất, thái móng, phơi khô, pha như nước chè. Tại trung tâm đảo có tấm bia chủ quyền mang cờ đỏ sao vàng cao hơn 2m.

      Hòn đảo thứ hai nên đến thăm là đảo Nam Yết, dài gần 800m, rộng 200m. Trên đảo có nhiều cây cối quanh năm không có bóng dáng mùa đông, chỉ có mùa thu mát rượi ban đêm và mùa hè nóng bức ban ngày.

      Đi giữa vùng cây trên đảo đâu đâu cũng gặp những cây cối quen thuộc. Đặc biệt có loài cây bàng biểu, tán xòe nhiều tầng như cái lọng, cành mọc ngang thường cao tới năm, bảy mét.

      Từ đảo Nam Yết đi về phía Đông Bắc chừng 18 hải lý là đảo Sơn Ca. Đây là một đảo nhỏ, nhiều cát, nổi lên giữa bãi san hô lớn, nên còn có tên là đảo Cát trên đảo có nhiều cây cối xanh tốt nhưng tán thấp. Bờ đảo phía trên là những dải cát trắng, phía dưới là bãi san hô ăn lan từ bờ ra ngoài biển tới ba bốn trăm mét. Khi có sóng thì bãi san hô bao quanh đảo đều nổi bọt sóng trắng xóa như bông. Cũng như nhiều đảo khác ở Trường Sa, đảo Sơn Ca thường có nhiều con vích, một loại rùa biển, lên đẻ trứng; thịt vích ngon như thịt bò.

      Nói đến chim thì trên đảo nào cũng có, nhưng không đâu nhiều bằng đảo Trường Sa. Đảo Trường Sa là một hòn đảo bằng phẳng dài gần 600m, rộng trên 200m và là hòn đảo nằm ở gần phía cực Tây của quần đảo Trường Sa. Trên đảo không có cây to, ven bờ đảo là bãi cát trắng, chung quanh đảo có những vành san hô, có nơi rộng tới gần ngàn mét.
      Trên đảo Trường Sa, đúng là thế giới của các loài chim. Buổi sáng, bước ra khỏi nhà, nhìn lên trời, thấy chim bay rào rào như một đám mây, nhìn dưới đất chim non la liệt. Cả đảo như một chuồng chim khổng lồ. Phân chim tích tụ hàng bao nhiêu đời, dầy cộm, nước mưa cuốn theo chất phốt phát hòa với san hô phong hóa, tạo thành những mỏ phốt phát vôi thiên nhiên lộ thiên. Theo các nhà địa chất thì khoan xuống độ sâu 3m. Tỉ lệ phốt phát cũng vẫn khá cao.

      Các thư tịch cổ ghi Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam. Thời thuộc Pháp, năm 1933 quần đảo này thuộc tỉnh Bà Rịa. Năm 1956, chính quyền Sài Gòn đưa về tỉnh Phước Tuy. Sau ngày giải phóng miền Nam, năm 1982 quần đảo Trường Sa được tổ chức thành huyện Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai. Đến nay, huyện Trường Sa được đưa về tỉnh Khánh Hòa.

      Đèo Rù Rì

      Ở về phía bắc của thành phố Nha Trang chỉ dài hơn 1km nhưng lại có nhiều đoạn quẹo chữ Z rất nguy hiểm. Rù Rì là do tên Rủy của viên kỹ sư Pháp làm đèo này xưa kia hình thành, cũng nằm trên QL1A.

    2. Bài thuyết minh tỉnh Khánh Hòa

       
      Bãi biển Đại Lãnh

      Nói đến bờ biển Khánh Hòa, không thể không nói đến bờ biển Đại Lãnh. Đại Lãnh nằm giữa hai đèo, đèo Cổ Mã phía Nam và đèo Cả phía Bắc, bãi tắm Đại Lãnh được cấu tạo thuần khiết với một thứ cát trắng mịn, đầm nét chặt chẽ, không hề gợn một cảnh san hô hay đá sỏi vụn, lại có độ thoai thoải lớn. Bãi tắm Đại Lãnh còn có một ưu điểm là ngay giữa khu vực bãi tắm lại có một nguồn nước ngọt chảy ra từ chân núi hoà vào biển cả, nước quanh năm mát lạnh, tinh khiết.

      Đại Lãnh từ xưa đã được vào hàng danh lam thắng cảnh của cả nước. Năm 1836, vua Minh Mạng đã cho chạm trổ cảng Đại Lãnh vào một Cửu Đinh đồng trang trí trước sân Thế Miếu của đất đế đô. Năm 1853, dưới thời vua Tự Đức, Đại Lãnh lại được giới thiệu trong “Tự điển quốc gia” do triều đình biên soạn.

      Đến Đại Lãnh, du khách có thể dọc theo dãy phố chính hoặc đi sâu vào làng chài, để tìm hiểu lối sống và cung cách sinh hoạt của người dân Đại Lãnh, hoặc mua hải sản khô làm quà. Ngoài ra du khách còn được thưởng thức các món hải sản tươi rói vừa được đánh bắt từ biển với cách chế biến phong phú và đâm đà hương vị địa phương.

      Huyện Vạn Ninh

      Huyện Vạn Ninh là một huyện địa đầu cực bắc của tỉnh Khánh Hòa, nằm phía ngang đèo Cả. Với diện tích tự nhiên là 550k2 trong đó ¾ diện tích là rừng, Vạn Ninh có 12 xã và 1 thị trấn với dân số là 125.118 người, mật độ dân số 229 người/ km2. Dân cư sống chủ yếu bằng nông nghiệp và lâm nghiệp. Thị trấn huyện lỵ là Vạn Giã cách Nha Trang 60km, có đường sắt xuyên việt chạy ngang huyện với các ga Đại Lãnh, Tu Bông … Vạn Ninh có nhiều danh lam thắng cảnh kỳ thú, nổi tiếng nhất là bãi biển Đại Lãnh. Tại nơi đây vua Minh Mạng đã chọn là nơi được khắc vào một trong chín đỉnh đồng đặt tại Thế Miếu. Phía nam Đại Lãnh có một vùng non nước kỳ thú được hiệp hội du lịch thế giới ( WTO ) và hiệp hội phát triển Liên hiệp quốc ( UNDP ) đánh giá là khu du lịch nhiệt đới phối hợp với bãi tắm Vân Phong là một trong những thắng cảnh quyến rũ nhất khu vực Châu Á và viễn đông. Vị trí nơi có phần đất vươn ra biển đông xa nhất nước. Có đặc tính của vùng vịnh kín, độ sâu trung bình khoảng 20 – 27 m, gần đường hàng hải quốc tế đã tạo ra một khả năng lớn để khai thác cảng biển, cảng chuyển tải quốc tế, dịch vụ thương mại. Vịnh Vân Phong còn là cảng biển lý tưởng của các cảng biển trên bán đảo Đông Dương và khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, ngoài ra ở Vạn Ninh còn có cảng Đầm Môn là cảng sâu nhất miền Trung ( tàu 30.000 tấn ) có thể ra vào.

      Khoáng sản có cao lanh Xuân Tự, cát trắng Đầm Môn, sa khoáng imenit Vĩnh Yên, granit Tân Dân, vàng Xuân Sơn … trong đó cát trắng Đầm Môn và granit Tân Dân có trữ lượng khá lớn.

      Đèo Cả

      Đèo Cả là tên một dãy núi cao thuộc hệ thống núi đông Trường Sơn, có sườn phía đông dốc đứng và tiếp xúc thẳng với biển Đông. Trên đỉnh đèo Cả – nơi có QL1 chạy qua là ranh giới phân chia giữa hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa ( cách thành phố Nha Trang 90 km và thị xã Tuy Hòa 30 km). Đây là một địa danh rất nối tiếng được khách phương xa biết đến bởi dưới chân có Vũng Rô sâu thẳm và bãi biển Đại Lãnh được xếp vào loại đẹp nhất nước ta.

      Dãy đèo Cả có cấu trúc địa chất khá điển hình, đó là một phức hệ đá xâm nhập bao gồm hầu như một loại đá Granit ( đá hoa cương) kết tinh hạt rất thô, độ bền cực cao, mức độ nứt nẻ thấp và thường có những monolith (khối), kích thước lớn – một nguyên liệu thiên nhiên lý tưởng cho nghệ thuật tạo hình và cho công nghệ đá trắng lát. Phức hệ đá Granit đèo Cả được các nhà địa chất học điển hình hóa và lấy tên gọi chung cho tất cả các thành tạo xâm nhập được hình thành vào cuối thời cainozo, có cùng cấu tạo và thành phần ở suốt một dãy của Nam Trung Bộ – phức hệ đèo Cả.

      Đường thiên lý bắc nam uốn lượn khuất khúc, quanh co trên 10km lưng chừng đèo Cả. Đèo Cả thuộc địa phận tỉnh Phú Yên thì rất dốc. Sau những cánh đồng lúa bát ngát của Tuy Hòa là đột ngột núi cao xuất hiện với nhiều hẻm vực. QL1 lúc ẩn, lúc hiện trên lưng chừng đèo, cố gắng nâng dần bình độ đạt đến đỉnh cao, khiến cho du khách nhiều phen hồi hộp đến toát mồ hôi khi nhìn thấy những hẻm sâu thăm thẳm dưới chân đèo. Ở địa phận của tỉnh Khánh Hòa, dộ dốc của đèo tương đối thấp hơn, dưới chân là biển Đông, Vũng Rô xanh ngát một màu. Cuối đèo Cả là cánh cung Đại Lãnh, một làng chài, một bãi biển nức tiếng gần xa.

      Trên đèo Cả có đỉnh núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn) cao 706m, đứng sừng sững, uy nghi, sáng sớm và chiều chiều mây phủ tứ bề, khi ẩn khi hiện. Trong “Lịch triều hiến chương loạn chí” có ghi: “ Thạch Bi Sơn ở bờ biển là chỗ phân chia địa giới giữa các triều trước với nước Chiêm Thành”. Vua Lê Thánh Tông từng sai đục đá làm bia để giới hạn và lưu lại những tích. Tuy nhiên cho tới nay những nhà khảo cổ học đã dày công tìm kiếm xung quanh và trên tảng Đá Bia khổng lồ này, song vẫn chưa tìm thấy bút tích nói trên.

      Núi Đá Bia nhô hẳn mình ra biển Đông kéo dài tạo nên một bán đảo che chắn sóng gió cho Vũng Rô. Bởi vậy cảng Vũng Rô tuy có sâu, nơi sâu nhất có thể đạt mức nước là 16m mà quanh năm vẫn sóng yên biển lặng. Trước năm 1975 nơi đây từng là cảng quân sự của Mỹ – Ngụy, đảm bảo tiếp tế hậu cần cho những căn cứ quân sự kéo dài tới 20 km suốt từ Đà Nông đến Đông Tác. Và cũng thật thú vị khi du khách biết rằng chính nơi đây Vũng Rô cũng là nơi tiếp nhận vũ khí, đạn dược và các phương tiện chiến đấu từ miền Bắc vào chi viện cho chiến trường quân khu V, được chuyên chở bằng những con tàu không số của Hải quân Việt Nam, làm điên đảo những bộ óc chuyên tính toán bằng máy móc của Lầu Năm Góc – Hoa Kỳ. Biết bao tấn vũ khí đạn dược, muối, gạo, thuốc men đã được bốc lên từ Vũng Rô và vận chuyển trên những đọan đường này để tới tay các chiến sỹ giải phóng, các chiến sỹ cách mạng mật trong các căn cứ và đô thị. Ở Vũng Rô hiện nay vẫn còn xác một con tàu không số từ miền bắc vào bị lộ. Các chiến sỹ của ta tranh thủ bốc hết hàng, đặt bộc phá đánh đắm tàu, đặt thuốc nổ đánh sập cửa hang, không cho địch cướp toàn bộ vũ khí trong hang, sau khi đã chuyển được một phần lên căn cứ.

      Dừng chân trên đèo Cả, phóng tầm mắt ra xa, du khách sẽ có dịp ngắm toàn cảnh Vũng Rô hùng vĩ, núi Đá Bia uy nghi, những hòn đảo xa, gần quy tụ lại tạo nên một bức tranh sơn thủy tuyệt vời. Du khách còn biết lưu luyến và thương mến nơi đây hơn khi biết rằng Vũng Rô và Thạch Bi Sơn đã bao phen chững kiến những thăng trầm của lịch sử đất nước, tạo nên những điển tích vẫn còn lưu luyến đến ngàn đời sau.

      Truyền thuyết về tượng Hòn Vọng Phu trên đỉnh đèo Cả

      Ngày xưa có hai anh em sống cùng chung với nhau rất hòa thuận, người anh luôn dành hết những sự ưu ái của mình cho người em gái. Một ngày kia đang lúc vui đùa với nhau người anh vô tình làm người em gái bị ngã để lại một vết thương dài ở đầu. Nhưng rồi chinh chiến xảy ra, hai anh em thất lạc không biết được tông tích của người em gái. Thời gian dần trôi, người anh trở thành một người thương buôn giàu có; người em trở thành một thiếu nữ xinh đẹp đảm đang hiền thục, giỏi thêu thùa dệt vải. Ông trời thật trớ trêu, ông tơ bà nguyệt lại se duyên cho hai anh em này lại lấy nhau. Họ sống rất hạnh phúc trong sự đầm ấm thương yêu của nhau và có một bé trai rất kháu khỉnh. Một ngày nọ, người chồng mới lấy lược chải tóc cho vợ phát hiện một vết sẹo to trên đầu vợ mình, bèn sinh nghi, hỏi vợ về nguồn gốc vết sẹo. Nàng thật thà kể lại đầu đuôi câu chuyện! Trời như sập đổ đầu người anh! Người vợ bao nhiêu năm nay anh chung sống lại là người em thân yêu thất lạc lâu nay.

      Người anh bối rối không biết tính sao? Anh quyết định ra đi, ra đi vĩnh viễn không về đây là giải pháp tốt nhất để sự thật mãi im lặng. Người vợ thấy chồng đi đã lâu mà không về, ngày ngày bồng con lên núi mong ngóng chồng về, chờ mãi chờ mãi nàng đã hóa đá với nỗi niềm mong một ngày đoàn tụ.

      Tại Lạng Sơn cũng có Hòn Vọng Phu – nàng Tô Thị nhưng lại là chờ chồng đi chinh chiến mà vẫn không về nên hóa đá, mặt hướng về phía Bắc.


    3.  
      Vũng Rô

      Trong chiến tranh Việt Nam đường mòn Hồ Chí Minh đã chi viện cho Việt Nam trên dãy Trường sơn , tuy nhiên để góp công vào sự chiến thắng cuả quân ta chống Mỹ cứu nước, một con đường khác góp phần không nhỏ và đã tạo nên thắng lợi đó là con đường Hồ Chí Minh trên biển.

      Bên tay phải là cảng Vũng Rô, là một cảng biển rộng, nơi sâu nhất có thể lên đến 15-16 m. Vũng Rô được chắn bởi núi Đá Bia hùng vĩ. Trước năm 1975, đây là cảng quân sự chiến lược đảm bảo cho việc tiếp tế hậu cần cho các căn cứ quân sự Mỹ và quân đội Sài Gòn. Đây đã từng là nơi để cho những con tàu thông số đi trên đường mòn Hồ Chí Minh trên biển cập vào đây chi viện hàng hoá, súng ống, đạn dược…phục vụ cho miền Trung cũng như miền Nam để giải phóng đất nước.

      Cảng Vũng Rô hiện nay rất kín gió do có hệ thống núi bao quanh , cho nên đó là một cảng rất tốt nên có rất nhiều bãi biển đẹp như: bãi biển cây Bàng …

      Tại cảng Vũng Rô, nơi tiếp nhận những con tàu thông số để di chuyển vũ khí, đạn dược từ ngoài Bắc vào. Tại nơi đây dẫn đến sự kiện do Mỹ-Ngụy đã phát hiện ra đường mòn Hồ Chí Minh là do Vũng Rô này. Nếu không có sự kiện Vũng Rô vào ngày 15-2-1965 thì đường mòn Hồ Chí Minh trên biển không bị lộ.

      Ở dưới đây còn rất nhiều một số xác của những con tàu thông số nằm dưới đây. Bắt đầu từ đó mà việc vận chuyển vũ khí trở nên khó khăn.

      Vừa qua năm 2005 người ta đã làm lễ cho những người tham gia trên con tàu thông số rất lớn.

      Mốc lịch sử năm 1954 sau khi Pháp bị chúng ta đánh tan buộc người Pháp phải ngồi vào bàn ký hiệp định Giơnevơ với các nước Đông Dương, trong đó có một điều khoản dành riêng cho Việt Nam chúng ta là nước Việt Nam chúng ta dự kiến tạm thời sau 2 năm tổng tuyển cử bầu ra một chế độ độc lập để thống nhất được 2 miền. Trong khoảng thời gian này có 2 tháng ai ờ ngoài Bắc, tất cả lực lượng của Pháp dồn hết dân tập kết vào miền Nam, lực lượng của miền Nam tập trung ra hết một phía. Cho nên một số người dân ngoài Bắc theo Pháp vào Nam đa phần là công giáo, một số người miền Nam những người theo cách mạng đi ra Bắc người ta gọi là tập kết ra Bắc. Miền Bắc sau naêm 1954 thực hiện những kế hoạch 3 năm, 5 năm tiến lên xã hội chủ nghĩa vững mạnh chi viện cho miền Nam. Ở miền Nam người Pháp đã xây dựng một chế độ cộng hoà, còn ở miền Bắc là xã hội chủ nghĩa, hay còn gọi là quá độ thời kỳ chủ nghĩa. Người Pháp đã đặt chế độ Ngô Đình Diệm lên và được Mỹ ủng hộ, cũng chính Ngô Đình Diệm lập ra bầu cử. Sau trận đánh Điện Biên Phủ do lực lượng nước ta còn non trẻ cho nên chỉ giải phóng được một nửa đất nước. Trong khoảng thời gian từ năm 1954 trải dài đến 1960 là thời kỳ chúng ta gần như không đánh trả.Vì vậy mà Pháp đã đưa ra nhiều bộ luật giết hại rất nhiều người dân, nhưng chúng ta không đánh trả vì như vậy là chúng ta đã sai hiệp định, cho đến năm 1960 nhân dân đã không chịu được sự áp bức bóc lột nên dẫn đến bùng nổ phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre. Khoảng năm 1958 bác Hồ cũng như đảng và nhà nước đã thấy được những âm mưu này và không thể nào hòa hoãn được, buộc chúng ta phải đánh bằng vỏ tre, và chúng ta đã thắng .

      Hiện tại Vũng Rô còn xác một con tàu không số từ miền Bắc vào bị lộ. Các chiến sĩ đã tranh thủ bốc dỡ hàng hóa và đặt mìn đánh đắm tàu.
      Mũi Đại Lãnh

      Dân địa phương còn gọi là Mũi Điện. Nằm trong cụm du lịch Đèo Cả - Vũng Rô, cách thành phố Tuy Hoà khoảng 40 km về phía Nam. Đây là điểm cực Đông trên đất liền Việt Nam, có tọa độ địa lý 12053’40” Vĩ độ Bắc và 109027’12” Kinh độ Đông. Trên mũi Đại Lãnh có tháp Hải Đăng được xây dựng cách đây 112 năm (1890). Đỉnh ngọn Hải Đăng cao 110 m so với mặt nước biển.

      Dưới chân núi Mũi Đại Lãnh có Bãi Môn rộng khoảng 16 ha, có con suối nước ngọt chảy từ trong núi ra, không bao giờ cạn, đây là bãi tắm rất lý tưởng, có thể hình thành khu nghỉ dưỡng, khu vui chơi giải trí thể thao, cắm trại và tổ chức các hoạt động đón bình minh sớm nhất đất nước.
      Núi Đá Bia - Phú Yên

      Qua khỏi cua Đá Đen trên đèo Cả phía tỉnh Khánh Hòa, khách lữ hành dễ nhận ra Bên phía tay phải có Núi Đá Bia hay còn được gọi là Thạch Bia Sơn cao 65m rộng 27m; núi cao 706m, bởi trên đỉnh núi có một tảng đá rất lớn. Theo một tư liệu của Pháp (được ông Võ Liệu dịch, đăng trên tạp chí Giáo Dục Phổ Thông số 44, năm 1962), núi Đá Bia còn có một tên gọi khác lý thú do người Pháp đặt: “Ngón tay của Chúa”.

      Núi Đá Bia là một trong số nhiều đỉnh cao của quần sơn Đại Lãnh, nằm ở phía bắc Đèo Cả. Cái làm cho ngọn núi này trở thành linh sơn (núi thiêng) chính là một khối đá cao lớn, cách xa cả chục kilomet vẫn nhìn rõ, nhô cao trên đỉnh núi như một chiếc sừng tê giác khổng lồ. Theo sử cũ thì vào năm 1471, vua Lê Thánh Tông trong lần cử binh Nam tiến đánh Chăm Pa đã qua đây. Trước cảnh núi non hùng vĩ trùng điệp nhà vua đã cho dừng binh. Thấy tảng đá kỳ lạ nằm trên đỉnh núi như thế nhà vua đã chú ý. Sau khi chiến thắng Chăm Pa vua quyết định lấy đèo Cả làm giới tuyến tự nhiên giữa Đại Việt và Chăm Pa và để ghi nhận sự kiện này, vua đã cho người tìm đường lên tận đỉnh núi khắc vào một mặt của tảng đá một dòng chữ Hán như sau:

      “Chiêm Thành quá thử, binh bại quốc vong
      An Nam quá thử, tướng chu binh chiết”

      Có nghĩa là: Chiêm Thành qua đây, quân thua nước mất. An Nam qua đây, tướng chết binh tan. Đây như một lời thề không xâm phạm lẫn nhau của vua Lê Thánh Tông. Sau đó núi này được đặt tên là Thạch Bi Sơn. Ngày nay do thời gian tàn phá những chữ chạm khi xưa đã không còn nữa nhưng Thạch Bi Sơn vẫn sừng sững như thách đố thời gian và làm một điểm nhấn cho không gian dưới chân đèo Cả. Đến gần, tùy theo góc nhìn mà chiếc sừng tê giác khổng lồ này có những hình dạng rất khác nhau: một tấm bia đá khổng lồ, một con sư tử nằm xuôi theo sườn dốc, một thầy tu đang ngồi thiền hoặc một nhà sư đang xuống núi.

      Người Phú Yên còn gọi khối đá là chiếc Linga vĩ đại của tỉnh Phú Yên (Linga: cột đá thiêng hình sinh thực khí của giống đực, biểu tượng của thần Siva theo tín ngưỡng Chămpa). Không ít lần Đá Bia bị sét đánh làm cho màu đá càng trắng ra chứ không đổ.

      Đã từ nhiều đời nay, người Phú Yên chỉ cần nhìn Đá Bia là có thể dự báo đúng thời tiết: nếu mây phủ Đá Bia thì chắc chắn trời sẽ mưa. Sườn bắc của khối núi Đèo Cả là sườn hứng mưa, đặc biệt vào mùa chính của gió đông bắc (tập trung từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau). Vào mùa này trung bình cứ 3 ngày thì có đến 2 ngày mưa. Vùng núi Đồng Cọ thuộc xã Hòa Xuân Nam, huyện Tuy Hòa có kiểu mưa địa hình rất đặc biệt: đang nắng có thể mưa to ngay được, có khi mưa rách lá chuối đầu làng, nhưng cuối làng vẫn khô ráo. Người địa phương gọi kiểu mưa đặc biệt này là "Mưa Đồng Cọ".

      Khi có mưa Đồng Cọ ắt có gió Tu Bông. Tu Bông - tên chữ là Tụ Phong (họng gió) - là một địa điểm phía nam Đèo Cả thuộc huyện Vạn Ninh, Khánh Hòa, đối diện với Đồng Cọ qua một khe núi sâu. Sau khi trút mưa ở Đồng Cọ, gió đông bắc bị ép vào khe núi này, thoát ra Tu Bông thành một loại gió tố rất mạnh. Cây cối Tu Bông có thân cong như cánh cung. Khách bộ hành có thể bị gió xô xuống ruộng.

      Chế độ thời tiết lắm mưa nhiều mây đã làm cho khu rừng đặc dụng Bắc Đèo Cả có một hệ thực vật rất đặc biệt. Ngày trước, đây là vùng cung cấp trầm hương và kỳ nam nổi tiếng. Hiện nay vẫn còn một tập đoàn cây quý như cẩm, thị, sao, chò, dầu, kiền kiền, đặc biệt là cây đát và tuế lá dừa. Cây đát có hạt rất đặc biệt: khi bóc vỏ, hạt đát cho một cùi trắng trong, dẻo, không thể thiếu trong món chè trái cây nổi tiếng ở Nha Trang.

      Tuế lá dừa là một loại cây cảnh đẹp, có thể cao đến 6 mét, mọc dày trên sườn núi, nhất là phía Bắc Đèo Cả. Ngoài ra lau núi cuối năm nở hoa trắng xóa. Trong gió lạnh, những trảng bông lau dập dờn như làn sóng, tạo ra hình ảnh nên thơ của Đèo Cả suốt cả trăm năm qua.

      Thực ra tên Đèo Cả mới có từ thời Pháp thuộc, khi quốc lộ 1A được mở. Trước đó, đường thiên lý Bắc Nam là một tuyến đường núi nhỏ hẹp, hiểm trở, khó đi, nằm về phía tây đường Đèo Cả bây giờ, được gọi là đường Gia Long. Khối núi Đại Lãnh hiểm trở đã góp phần làm dừng bước chân nam tiến của Vua Lê Thánh Tông năm 1471. Nhà vua phải lập một tiểu vương quốc ở vùng đất Phú Yên bây giờ gọi tên là nước Hoa Anh, làm vùng đệm giữa Đại Việt và Chiêm Thành để tránh đụng độ quân sự trực tiếp giữa hai nước. Nhưng trên thực tế, quân đội Chiêm Thành do thông thạo những tuyến đường mòn xuyên qua khối núi Đại Lãnh, đã không ít lần đột nhập cướp phá nước Hoa Anh.

      Năm 1653, tuân lệnh chúa Nguyễn Phúc Tần, Cai cơ Hùng Lộc tấn quân đến tận Phan Rang, thâu tóm vùng đất Khánh Hòa này vào xứ Đàng Trong, chấm dứt vai trò biên giới của vùng núi Đại Lãnh suốt 182 năm không dứt tiếng gươm khua ngựa hí.

      Hơn 100 năm sau, địa thế chiến lược của vùng núi Đại Lãnh đã thu hút nhiều cuộc hành quân và giao chiến đẫm máu giữa hai nhà Nguyễn (Tây Sơn và Nguyễn Ánh) trong hơn 3 thập niên nội chiến (1771-1802).

      Tháng 1 năm 1947, chỉ 24 ngày sau lệnh toàn quốc kháng chiến, Đèo Cả trở thành chiến trường xung yếu, nơi trung đoàn 80 bộ đội địa phương kịch chiến với giặc Pháp, mở đầu cho hàng loạt trận đánh ác liệt trong suốt cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ sau này của quân dân Phú Yên và Khánh Hòa. Từ tháng 11-1964 đến tháng 2-1965, 4 chuyến tàu không số chở vũ khí chi viện cho miền Nam đã cập bến Vũng Rô - một vùng biển nước sâu, kín đáo và đẹp như tranh vẽ nằm ngay dưới chân Đèo Cả.

      Từng mét vuông ở vùng núi Đèo Cả như nhuộm đỏ máu trong suốt nửa thiên niên kỷ không ngớt giao tranh của lịch sử dựng nước và giữ nước.

      Ngày nay, với phong cảnh non xanh nước biếc, Đèo Cả - Vũng Rô - Đá Bia đã trở thành vùng du lịch nổi tiếng trên còn đường thiên lý Bắc Nam. Như thuở nào, Đèo Cả vẫn mù sương như muốn dấu lịch sử bi hùng dưới sắc xanh của tuế là dừa. Tuy nhiên, trong tiếng gào rít của gió Tu Bông, dường như vẫn âm vang lời thơ hào hùng của Hữu Loan những ngày đầu kháng chiến chống Pháp 1946:

      "Đèo Cả! Đèo Cả!
      Núi cao ngất
      Mây trời ai lao sầu đại dương
      Dặm về heo hút
      Đá Bia mù sương…"
      Ga Hảo Sơn - Phú Yên

      Năm 1858 khi người Pháp nổ tiếng súng đầu tiên tại Đà Nẵng liên quân Pháp, Tây Ban Nha nhưng họ đã không thành công bởi vì gặp sự kháng cự của quân triều đình đặc biệt dưới sự chỉ huy của ông Nguyễn Tri Phương, thế là người Pháp buộc phải thay đổi chiến lược, thay vì đánh chiếm Đà Nẵng trước họ chuyển vào Sài Gòn và sau đó đánh dần vào 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ và 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Năm 1889 cơ bản là họ đã lập xong ách thống trị và đô hộ ở nước Việt chúng ta. Sau đó người Pháp bắt đầu khai thác kinh tế ở nước ta như khai thác dầu mỏ, cao su, sức người, sức của…để phục vụ cho việc khai thác này họ đã đặt ra con đường để vận chuyển những hàng hóa mà họ khai thác bằng con đường đầu tiên đó là con đường xe lửa. Đến cuối thế kỷ 19 người Pháp bắt đầu xây dựng đuờng ray, đường sắt và khi đường sắt hoàn thành thì người Pháp đã xây dựng từ Nam ra Bắc và ngược trở lại. Nơi 2 đường sắt gặp nhau rơi đúng ngay ga Hảo Sơn

      Nick: clbniemtinviet
      CN CLB: Mr Trí
      DĐ: 0902 966 919
      Email: clbniemtinviet@gmail.com
      Tạm trú: CLB HDV DL Niềm Tin Việt - VCT
      Chức năng: Cung cấp lực lượng HDV DL cho các Công ty du lịch
      Đáp ứng: Nội địa, inbound, outbound - Anh, Pháp, Nhật, Hàn, Hoa...
      Thực hiện: Quản trò, Lửa trại, Galadinner, Game, TeamBuilding...
      Mục tiêu: Cho đi để rồi nhận lại!!!

1 nhận xét: