B. Tại nhà bảo tàng.
Nhà bảo tàng là công trình được xây dựng mới hoàn toàn và được đưa vào
phục vụ khách tham quan từ năm 2002. Với diện tích khoảng 360 m2, nhà
bảo tàng gồm có 2 tầng dùng để trưng bày các bức ảnh và hiện vật chiến
tranh.
Tầng 1: Gian khánh tiết
Vị trí mà đoàn đang đứng là gian khánh tiết, đây là gian trưng bày những
hình ảnh về Thành Cổ Quảng Trị trong cuộc chiến 81 ngày đêm mùa hè
1972. Trước mặt đoàn là bức ảnh Thành Cổ do phóng viên Đoàn Công Tính
chớp ngày 16/8/1972 tức là Thành Cổ giữa cuộc chiến 81 ngày đêm. Ngày
xưa tường thành cao 4m, dày 12m nhưng với số lượng bom đạn khổng lồ
328.000 tấn bom mà kẻ thù đã thả xuống đây tương đương với sức công phá
của 7 quả bom nguyên tử loại mà chúng ném xuống Nhật Bản nên những công
trình trong Thành Cổ hầu như bị san phẳng hoàn toàn. Vậy mà các chiến sỹ
của ta vẫn kiên cường bám trụ, sức mạnh bom đạn không đè bẹp được con
người. Nhận định về sự kiện này, Cố Tổng bí thư Lê Duẩn khẳng định:
“Chúng ta đã chịu đựng được không phải vì chúng ta là gang thép, vì gang
thép cũng chảy với bom đạn của chúng. Mà chính chúng ta là những con
người, những con người thực sự - Những con người Việt Nam, với truyền
thống 4000 năm đã giác ngộ sâu sắc trách nhiệm trọng đại trước Tổ Quốc,
trước thời đại.”
Mùa hè năm 1972, ta tổng động viên và đưa vào chiến trường 6 sư đoàn chủ
lực bao gồm những sư đoàn thép như: sư đoàn 304, 308, 320, 324, 312,
325…và một số trung đoàn, tiểu đoàn thuộc các binh chủng khác chính vì
thế mà người ta cho làm hai bức phù điêu hai bên để ghi tên các sư đoàn,
trung đoàn, tiểu đoàn đã từng tham gia chiến đấu để bảo vệ Thành Cổ.
Và trong mưa bom bảo đạn, khi sự sống và cái chết đang gần kề gang tấc,
vẫn còn đó “nụ cười thách thức bom đạn” của những chiến sĩ giải phóng
quân dưới chân Thành Cổ, không những nụ cười của những anh lính giải
phóng quân mà còn có “nụ cười của ông lão ngư dân Triệu Phong” ngày đêm
đưa bộ đội sang sông Thạch Hãn. Không biết bao chuyến đò mổi ngày, bao
nhiêu anh lính được ông đưa vào chi viện cho Thành Cổ Quảng Trị. Ông lão
này đến năm 1975 thì mất, thọ được 72 tuổi còn cô du kích ngồi bên cạnh
sau này đã trở thành con dâu ông, cô tên Nguyễn Thị Thu hiện đang sống ở
Thị trấn Ái Tử - Huyện Triệu Phong.
Tầng 2 nhà bảo tàng: Được trưng bày theo 8 mảng sau:
Mảng 1: Thành Cổ và thị xã Quảng Trị trước cuộc chiến 81 ngày đêm.
Đây là sơ đồ Thành Cổ do người Pháp vẽ năm 1889. Thành Cổ Quảng Trị được
xây dựng dưới thời nhà Nguyễn. Năm 1809 vua Gia Long cho đắp bằng đất,
28 năm sau năm 1837 vua Minh Mạng cho xây bằng gạch, thành được xây dựng
theo kiểu kiến trúc Vauban, 4 góc tường thành nhô hẳn ra bên ngoài để
làm pháo đài canh giữ, chu vi thành trên 2160m, diện tích nội thành
16ha, tường thành cao 4m, dày 12m, xung quanh có hào thành, có 4 cửa
Đông - Tây - Nam - Bắc.
Thời phong kiến Thành Cổ Quảng Trị là trung tâm kinh tế, chính trị, quân
sự của tỉnh Quảng Trị, là thành luỹ phòng ngự để bảo vệ kinh đô Huế ở
phía Bắc nên trong thành có nhiều công trình kiến trúc được xây dựng
như: Hành cung, cột cờ, dinh tuần phủ, dinh án sát, dinh lãnh binh...
Sau khi đặt chính quyền bảo hộ ở Trung Kỳ, thực dân Pháp cho xây dựng
một hệ thống nhà lao kiên cố ở phía Đông Bắc Thành Cổ, đây là nơi biệt
giam các chiến sĩ cộng sản tức là những ai cứng đầu nhất thì đưa vào lao
xá Quảng Trị.
Từ năm 1929 đến đầu 1972 hàng ngàn chiến sĩ cộng sản và đồng bào yêu
nước đã bị giam cầm ở đây. Thời Mỹ nguỵ, Thành Cổ Quảng Trị là một tiểu
khu quân sự mạnh nên trong Thành có trận địa hỏa lực và nhiều trại lính.
Trải qua biến cố thăng trầm lịch sử, Thành Cổ Quảng Trị đã thay đổi về
diện mạo và chức năng. Đây là những hình ảnh thị xã Quảng Trị trước năm
1972 rất sầm uất, có trên 1 vạn ngôi nhà, nhiều công trình dân sinh và
tôn giáo. Khi ta vào giải phóng Quảng Trị tất cả còn nguyên vẹn nhưng
sau 81 ngày đêm tất cả đã bị sang phẳng hoàn toàn.
Mảng 2: Các căn cứ quân sự.
Sau khi hiệp định Giơnevơ được ký kết năm 1954, đất nước bị chia cắt làm
2 miền, Quảng Trị trở thành tỉnh địa đầu giới tuyến có vị trí sống còn
với đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Đây vừa là bàn
đạp để thực hiện âm mưu bắc tiến, vừa là lá chắn để bảo vệ “Biên giới
Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17” như Ngô Đình Diệm từng tuyên bố. Do vậy
chúng đã tập trung xây dựng ở đây một hệ thống các căn cứ quân sự lớn
mạnh kéo dài từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam. Với hệ thống các căn cứ
như vậy, Tổng thống Nichxơn thách thức “Nếu có cuộc tấn công mạnh của
cộng sản thì tuyến phòng thủ này có thể bị chùng chứ không bị đứt” nhưng
rồi cuộc chiến đầu năm 1972 như thế nào, xin mời đoàn sang thăm phần
tiếp theo.
Mảng 3: Chiến dịch giải phóng Quảng Trị đầu năm 1972
Bước sang năm 1972, thấy thời cơ đã đến, Bộ chính trị và Quân uỷ TW đã
quyết định mở chiến dịch giải phóng Quảng Trị. Vào hồi 11h ngày 30/3
chiến dịch được bắt đầu bằng cuộc tấn công cứ điểm Pulơ (Cam Lộ), bằng
đòn đánh bất ngờ, ta đã nhanh chống làm chủ cứ điểm này. Những ngày tiếp
theo ta tiếp tục tấn công vào các điểm trọng yếu và hàng rào điện tử
Macnamara, thừa thắng ta tấn công truy kích vào vòng trong và trong
khoảng thời gian ngắn quân ta đã lần lượt giải phóng Gio Linh, Cam Lộ,
Đông Hà, Triệu Phong. Ngày 1/5 cờ cách mạng đã tung bay trên nốc dinh
tỉnh trưởng ở thị xã Quảng Trị. Tỉnh Quảng Trị cơ bản được giải phóng.
Mảng 4: Thành Cổ và Thị xã Quảng Trị trong 81 ngày đêm khốc liệt.
Sau khi để mất tỉnh Quảng Trị vào tháng 5, đến cuối tháng 6 Mĩ - nguỵ đã
điên cuồng mở cuộc phản kích tái chiếm tỉnh Quảng Trị với mật danh “Lam
Sơn 72”. Trong đó mục tiêu số 1 là phải chiếm được Thành Cổ Quảng Trị,
vì chúng cho rằng: Chiếm được Thành Cổ là cơ bản chiếm được tỉnh Quảng
Trị, tạo ra sức nặng để mặc cả với ta trên bàn hội nghi Pari. Mĩ - nguỵ
mở cuộc phản kích nhằm đạt được những âm mưu rất xảo quyệt về chính trị,
quân sự, ngoại giao: lấy lại tinh thần, tẩy xoá tâm lý thất bại đang
lan tràn trong nguỵ quân, nguỵ quyền nhằm cứu vãn chiến lược “Việt Nam
hoá chiến tranh”, chiếm lại những vùng đất đã mất, thay đổi cục diện
chiến trường nhằm gây sức ép với ta trên bàn hội nghị Pari. Để làm được
điều đó, địch đã huy động vào đây một lực lượng rất lớn gồm 4 sư đoàn,
trong đó có 2 sư đoàn thiện chiến nhất của quân lực VNCH là sư đoàn Dù
được mệnh danh là Thiên thần mũ đỏ và sư đoàn Thuỷ quân lục chiến được
mệnh danh là Cọp biển. Cùng sự hỗ trợ tối đa của hoả lực không quân, hải
quân Mỹ.
Tướng Ngô Quang Trưởng, chỉ huy cuộc phản kích tuyên bố “ đồng minh sẽ
sử dụng tối đa hoả lực của không quân và pháo binh để nghiền nát Cổ
thành Quảng Trị.
Và quả thật đúng như vậy.
Thị xã Quảng Trị trong 81 ngày đêm từ 28/6 đến 16/9 được ví như một túi
bom. Trung bình mỗi ngày địch huy động 150-170 lần chiếc máy bay phản
lực, 70 – 90 lần chiếc B52 để ném bom huỷ diệt thị xã và Thành Cổ Quảng
Trị. Với diện tích chưa đầy 3 cây số vuông, trong 81 ngày đêm thị xã và
Thành Cổ Quảng Trị phải gánh chịu 328.000 tấn bom đạn, trung bình mỗi
chiến sỹ của ta phải gánh chịu 100 tấn bom, 200 quả đạn pháo. Do vậy,
toàn bộ thị xã và Thành Cổ Quảng Trị đã bị san phẳng hoàn toàn và sự
sống đã bị huỷ diệt như thế này đây (xem ảnh). Và dù trên mình mang đầy
thương tích nhưng các anh vẫn chiến đấu ngoan cường, quyết không rời
trận địa, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, cứ người này ngã xuống người
khác lại đến thay. Báo quân đội nhân dân ra ngày 9/8/1972 có viết “Mỗi
mét vuông đất mà các chiến sỹ ta dành được ở Thành Cổ Quảng Trị thực sự
là một mét vuông máu”. Theo thống kê của phòng quân lực, 80% chiến sỹ
của ta đã hi sinh do sức ép của bom đạn, dù đang ngồi trong hầm cũng vỡ
máu mũi, máu tai mà hi sinh.
Do hoả lực của địch quá mạnh, phòng tuyến vòng ngoài của ta bị vỡ dần.
Từ đầu tháng 9 đã diễn ra cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt trong lòng thị
xã và Thành Cổ Quảng Trị. Ta và địch giành nhau từng căn nhà, góc phố,
từng mảng tường Thành Cổ. Thời tiết lúc này không thuận lợi, áp thấp
nhiệt đới liên tục xảy ra, nước sông Thạch Hãn dâng cao, cả thị xã chìm
trong biển nước. Lợi dụng tình hình đó địch tăng cường bắn phá vào công
sự của ta. Các chiến sỹ của ta vừa thay nhau tát nước chống ngập công
sự, vừa chống trả địch, suốt ngày ngâm mình trong nước, ăn lương khô,
uống nước lã nên sức khoẻ giảm sút, thương vong rất lớn có ngày trên 100
người. Trước tình hình đó, ngày 16/9 Quân uỷ TW đã ra lệnh rút toàn bộ
quân sang bờ Bắc sông Thạch Hãn để bảo toàn lực lượng. Kết thúc 81 ngày
đêm chiến đấu anh dũng kiên cường.
Năm 1972, ta tổng động viên nên phần lớn các chiến sỹ của chúng ta tham
gia chiến đấu ở chiến trường thị xã và Thành Cổ Quảng Trị đều còn rất
trẻ (xem ảnh). Vì tổ quốc các anh sẳn sàng hiến dâng cả tuổi thanh xuân
và hạnh phúc riêng tư của mình. Tiêu biểu ở đây có anh Nguyễn Xuất Hiện
tham gia chiến đấu khi mới 14 tuổi. Kết thúc 81 ngày đêm của cuộc chiến,
ta đã tiêu diệt 26 ngàn tên địch.
Cuộc chiến 81 ngày đêm tại thị xã và Thành Cổ Quảng Trị cùng với thất
bại của trận Điên Biên Phủ trên không ta buộc địch phải ký hiệp định
Pari vào ngày 27/1/1973.
Mảng 5: Một số hình ảnh sau khi hiệp định Pari được ký kết.
Sau hiệp định Pari ký kết ta cắm cờ lên các vùng đất được giải phóng. Lúc này cờ của ta và cờ ba que cắm xen kẽ với nhau.
Sông Thạch Hãn đã trở thành ranh giới chia cắt giữa hai bên. Và ở đây đã
diễn ra việc trao trả tù binh từ hai phía. Hàng ngàn chiến sĩ của ta đã
được trở về trong vòng tay đồng đội và sự đón chào nồng nhiệt của nhân
dân ta.
Mảng 6: Đặt trụ sở chính phủ CMLTCHMN Việt Nam ở Cam Lộ.
Tỉnh Quảng Trị lúc bấy giờ mới giải phóng đã rất vinh dự được chọn làm
nơi đặt trụ sở chính phủ CMLTCHMN Việt Nam tại thị trấn Cam Lộ - huyện
Cam Lộ vào tháng 6/1973.
Mảng 7: Thị xã Quảng Trị sau ngày đất nước được thống nhất .
Sau ngày đất nước thống nhất , Quảng Trị đã bắt tay xây dựng lại quê
hương. Từ đống đổ nát hoang tàn sau chiến tranh, nhiều công trình mới đã
được mọc lên.
Mảng 8: Di vật liệt sỹ và một số hoạt động tri ân.
Chiến tranh đã lùi xa vào quá khứ, nhưng nổi đau thời hậu chiến thì vẫn
đeo đẵng trong mỗi người dân chúng ta. Biết bao gia đình phải chịu cảnh
mẹ mất con, vợ mất chồng, con phải mồ côi bố. Hiện tại nhà bảo tàng
Thành Cổ đang trưng bày hai di vật của hai liệt sỹ rất tiêu biểu xúc
động. Xin mời đoàn sang tham quan phần di vật.
Di vật của liệt sỹ Lê Binh Chủng, quê ở Quỳnh Mỹ - Quỳnh Lưu - Nghệ An.
Vào năm 2000 khi đang thi công công trình đường ống dẫn nước ở phía Tây
Thành Cổ đơn vị thi công đã phát hiện một hầm chữ A trong đó có 5 hài
cốt, hết 4 hài cốt chưa xác định được danh tính, chỉ có một số giấy tờ, 2
lá thư và hai tấm hình còn nguyên vẹn vì được gói rất kỷ trong bao ni
long. Đó là di vật của liệt sỹ Lê Binh Chủng - Chính trị viên tiểu đoàn 3
bộ đội địa phương Quảng Trị. Qua quá trình tìm hiểu chúng tôi mới biết
rằng: Năm 1970 trên đường vào chiến trường miền Nam chiến đấu anh Chủng
có ghé qua miền Tây Quảng Bình (Xã Đông Trạch - Bố Trạch - Quảng Bình). Ở
đó anh có quen và yêu chị Phạm Thị Biển Khơi. Đơn vị đứng ra tổ chức lễ
cưới cho anh chị và sau đó anh tiếp tục vào chiến trường Quảng Trị nơi
diễn ra cuộc chiến 81 ngày đêm khốc liệt và anh đã anh dũng hi sinh ở
đó. Ở quê nhà chị Khơi sinh được cháu trai và đặt tên Lê Quảng An (Quảng
Bình - Nghệ An). Khi nhận được tin anh hi sinh chị rất buồn và chị
quyết định đưa cháu về quê nội. Nhưng đáng tiếc gia đình chồng không
nhận con dâu và cháu nội vì chưa nghe tin anh cưới vợ bao giờ. Chị lại
thui thủi một mình đưa con về sinh sống ở quê ngoại. Và đến năm 2000 sau
khi nhận được di vật của anh gia đình mới nhận con dâu và cháu nội. Anh
Lê Quảng An sau 28 năm mới được công nhận là con liệt sỹ.
Trong số hàng ngàn chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến 81 ngày đêm ở
thị xã và Thành Cổ Quảng Trị, có rất nhiều học sinh, sinh viên của các
trường miền Bắc. Họ đã xếp bút nghiêng lên đường chiến đấu theo tiếng
gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Trong đó có liệt sỹ Lê Văn Huỳnh, quê xã
Lê Lợi - Huyện Kiến Xương - Tỉnh Thái Bình mà di vật của anh đang được
trưng bày ở đây.
Anh Lê Văn Huỳnh khi đó là sinh viên năm thứ 4 trường ĐHXD Hà Nội. Có vợ
là Đặng Thị Xơ (cùng quê với anh). Sau khi cưới vợ được 6 ngày, chưa
kịp có con thì tháng 5 -1972 anh đã theo lệnh Tổng động viên vào tham
gia chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị. Đầu tháng 9/1972 anh nhận được
lệnh làm nhiệm vụ đưa hàng tiếp tế qua sông Thạch Hãn. Như biết chắc
rằng rồi đây mình sẽ hi sinh, anh đã bình thản làm cho mình một tấm bia
bằng tôn ghi rõ họ tên, ngày tháng năm sinh, quê quán của anh. Sau đó
anh viết thư vĩnh biệt gửi về cho gia đình. Thư anh viết rất xúc động,
đầy trách nhiệm trước gia đình và Tổ quốc. Tôi xin trích đọc một số đoạn
như sau:
Quảng Trị ngày 11/9/1972
Toàn gia đình kính thương!
Hôm nay, con ngồi đây biên vài dòng chữ cuối cùng phòng khi đã đi nghiên
cứu bí mật trong lòng đất thì gia đình khỏi thấy đó là điều đột ngột.
Mẹ kính mến!
Lớn lên trong tay mẹ từ khi còn trứng nước, chưa đền đáp được công ơn to
lớn đó của mẹ thì đứa con út của mẹ đã phải đi thăm bố con rồi. Thư này
tới tay mẹ chắc mẹ buồn lắm. Lòng mang nặng đẻ đau, giọt máu đào hơn ao
nước lã, lá vàng còn ở trên cây - lá xanh rụng xuống trời ơi hởi trời.
Con của mẹ đã đi xa để lại cho mẹ nổi buồn nhất trên đời. Con rất hiểu
đời mẹ đã khổ nhiều, nay bao hy vọng nuôi con khôn lớn, song vì đất nước
có chiến tranh, thì mẹ ơi hãy lau nước mắt cho đời trẻ lâu, sống đến
ngày đón mừng chiến thắng. Con đi, mẹ ở lại trăm tuổi bạc đầu, coi như
con lúc nào cũng nằm bên mẹ, mẹ đừng buồn cho linh hồn con được thoải
mái ra đi. Bố con đã đi xa để lại cho mẹ biết bao khó nhọc, nay con đã
đến ngày khôn lớn thì ...Thôi nhé mẹ đừng buồn, coi như con đã sống trọn
đời cho Tổ Quốc mai sau.
Đoạn thư anh viết cho người vợ mới cưới của mình.
Em yêu thương!
Anh biết em sẽ không đọc nổi lá thư này vì biết bao nổi buồn đang đè
nặng lên tấm thân người con gái trẻ tuổi như em. Nhưng em ơi hãy bình
tĩnh làm theo lời anh căn dặn, còn ngày anh đi xa là ngày anh đề ngoài
phong bì mà nhờ bạn anh gửi giúp. Em sẽ đọc thư này cho mọi người trong
gia đình nghe trong buổi lễ truy điệu anh. Cho anh gửi lời chúc sức khoẻ
tất cả những người quen thuộc trên quê hương trong buổi lễ truy điệu
lịch sử này. Thôi nhé em đừng buồn, khi được sống trong hoà bình hãy nhớ
tới lòng anh.
Đoạn thư anh viết cho bố mẹ vợ.
Thầy mẹ kính mến!
Con mong thầy mẹ đừng buồn nhiều, mạnh khoẻ cho đời mãi mãi kéo dài đón
mừng ngày thống nhất. Thầy mẹ ạ! Chúng con sống với nhau chẳng được bao
lâu,thì nay đã...Chắc em nó buồn lắm, thầy mẹ động viên em thay con.
Theo con đời em con trẻ lắm, nếu ai người ta thông cảm thầy mẹ động viên
em nó nên đi thêm bước nữa. Cứ ngày này thầy mẹ hãy nhớ tới con. Thôi
tất cả những gì đã qua là vào dĩ vẳng ra đi con mong thầy mẹ khoẻ, sống
lâu mãi mãi. Cho con gửi lời chào bà, các cậu và họ hàng thân thuộc.
Sau khi hoàn thành bức thư, đúng 3 tháng 20 ngày sau tức ngày 2/1/1973
anh Lê Văn Huỳnh đã anh dũng hi sinh khi đang làm nhiệm vụ.
Vào năm 2002, hài cốt của anh đã được tìm thấy bên dòng sông Thạch Hãn ở
thôn Thượng Phước, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong và được đưa ra an
táng tại quê nhà. Chị Đặng Thị Xơ vẫn ở vậy ngày đêm hương khói cho
anh.
*Một số hoạt động và công tác tri ân.
Sông Thạch Hãn cách phía Tây Thành Cổ khoảng 300m. Trong 81 ngày đêm của
cuộc chiến, đây là đường tiếp tế nhân lực, vật lực duy nhất cho mặt
trận thị xã và Thành Cổ Quảng Trị. Để cắt đứt tuyến đường tiếp tế đó,
địch tăng cường ném bom bắn phá, rất nhiều chiến sỹ của ta đã hi sinh
trên sông, sông Thạch Hãn mùa hè năm 1972 thực sự là một dòng sông máu.
Sau ngày đất nước được giái phóng, với truyền thống uống nước nhớ nguồn,
hàng năm cứ đến ngày 30/4, 27/7, 22/12 nhân dân Quảng Trị đều tổ chức
thắp nến, thả hoa trên sông Thạch Hãn để tưởng nhớ, tri ân những chiến
sỹ đã ngả xuống trên dòng sông và đây đã trở thành lễ hội truyền thống.
Cựu chiến binh Lê Bá Dương về thăm lại chiến trường xưa, sau khi vào
thành cổ thắp nén hương cho đồng đội, ông ra đứng bên dòng Thạch Hãn mà
nhắn nhũ rằng:
Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ.
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi đôi mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm.
Đó cũng chính là toàn bộ nội dung về lịch sử Thành Cổ Quảng Trị mà tôi
đã giới thiệu với đoàn, một lần nữa thay mặt Ban quản lý khu di tích xin
gửi đến đoàn lời chúc sức khỏe và có một chuyến tham quan thật an toàn.
KẾT LUẬN
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng dư âm của cuộc chiến 81 ngày đêm mùa hè
lịch sử thì vẫn còn đó. Thành Cổ Quảng Trị và dòng sông Thạch Hãn trở
thành tượng đài lịch sử trong tâm khảm đồng bào cả nước. Nơi đây mãi là
cội nguồn cho những xuộc hành hương ngược dòng kịch sử cho những ai muốn
chiêm nghiệm lẽ sống và sự hy sinh bất tử.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét