Bài thuyết minh về Hội quán Phúc Kiến tại Hội An
Chào mừng quý khách đến thăm phố cổ Hội An!
Hội An là một thị xã nhỏ bé nằm trên đất Quảng Nam, là nơi chứng kiến
hai cuộc giao thoa văn hóa lớn trong lịch sử Việt. Lần thứ nhất là cách
đây hơn 5 thế kỷ, khi nước Đại Việt tiến về phương nam mở mang bờ cỏi,
và lần thứ hai là cách đây 2 thế kỷ, khi người Phương Tây theo các chiến
thuyền và thương thuyền đặt chân lên mảnh đất này với ý đồ truyền bá và
thôn tính. Cả hai sự kiện đó đều kéo theo tương tác văn hoá lớn lao và
nền văn hóa việt đã vượt qua thử thách đồng hóa để tự cải biến và tồn
tại cùng thời cuộc.
Bên cạnh đó Hội An còn là một cảng thị truyền thống ở Đông Nam Á vào thế
kỷ 15 và 16, vẫn còn được bảo tồn nguyên vẹn và chu đáo, là phố cổ duy
nhất ở Việt Nam còn giữ được tương ứng nguyên trạng với lối kiến trúc
nhà ở truyền thống có niên đại cách đây từ 2 đến 3 trăm năm, xen vào
những ngôi nhà ở là những công trình kiến trúc tôn giáo cũng như đền
miếu, hội quán… Là nơi có môi trường sinh thái nhân văn rất độc đáo. Bao
xung quanh đó là các làng nghề và những cảch sinh hoạt trên sông nước.
Đây cũng là di tích của ba cộng đồng người cùng sinh sống là người Việt,
Trung Hoa và Nhật Bản.Chính những điều này mà Hội An được UNESCO công
nhận di sản văn hóa vào tháng 12 năm 1999.
Kính thưa quí khách, hôm nay chúng ta sẽ tham quan Hội Quán Phúc Kiến –
Một công trình kiến trúc độc đáo theo kiểu Trung Hoa tại Hội An .
Kính thưa quí khách, hiện nay chúng ta đang đứng trước cổng chính của Hội quán Phúc Kiến trên đường Trần Phú.
Sử Trung Hoa kể rằng, vào thế kỷ XVII, năm 1649, ở Trung Quốc, nhà Thanh
diệt nhà Minh, lập ra triều Mãn Thanh. Các tướng lĩnh triều Minh không
thuần phục, nỗi dậy phản Thanh phục Minh và đã bị thất bại. Nhiều người
trong số họ đã đưa gia đình lên tàu vượt biển đến xuống vùng Đông Nam Á,
trong đó có Hội An. Họ đã xin Chúa Nguyễn cho phép định cư ở Hội An, và
thành lập ở đây làng Minh Hương, đó là những người dến từ 5 bang chính:
Triều Châu, Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam, Haka hay còn gọi là Hẹ. Vì
người Hoa cũng như người Việt sống mang tính cộng đồng rất cao, để có
thể đoàn kết cùng nhau buôn bán, tương trợ lẫn nhau khi hoạn nạn mỗi
bang đã lập nên cho mình một hội quán. Hội quán Phúc Kiến nỗi tiếng bởi
vẻ đẹp nguy nga, tráng lệ, uy nghiêm trong một không gian rộng lớn, kiến
trúc đặc sắc kiểu Trung Hoa và sự linh thiêng của nó.
Hội quán Phúc Kiến là nơi thờ Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu và các vị thần bảo
hộ về sông nước, tiền của, con cái, các vị tổ tiên và là nơi họp đồng
hương và giúp dỡ lẫn nhau của người Phúc Kiến, những người đến Hội An
sớm nhất và đông nhất. Đây là công trình kiến trúc tiêu biểu tại Hội An
được xây dựng vào năm 1697. Qua nhiều lần trùng tu, với sự đóng góp của
Hoa Kiều bang Hội Quán Phúc Kiến càng trở nên rực rỡ, khang trang góp
phần tô diểm diện mạo kiến trúc đô thị cổ Hội An.
Trước kia nó được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ nhưng đến năm 1757 Hội Quán
này được xây dựng lại bằng gạch và mái ngói như quí khách đang thấy. So
với các Hội Quán khác ở Hội An như Quảng Đông, Triều Châu, Hải Nam
……Phúc Kiến có không gian rộng và sâu nhất, với lối kiến trúc xưa với
kiểu ” Nội công ngoại quốc”, và bộ vì kèo tiền điện theo kiểu “Chồng
rường giả thủ”, cùng với nhiều bức chạm lộng, chạm nổi hoa lá, điểu thú
rất sinh động. Hội quán được công nhận là di tích loại 1 vào ngày
19/3/1985. Tôi sẽ giới thiệu cho quí khách được rõ hơn khi chúng ta vào
bên trong để tham quan.
Bây giờ xin mời quí khách hay theo tôi vào tham quan Hội Quán.
Kính thưa quí khách bây giờ chúng ta đang đứng trước cổng tam quan, một
công trình không thể thiếu trong lối kiến trúc đình , chùa truyền thống.
Công trình này được trùng tu vào năm 1975, toàn bộ công trình được khảm
bằng sành sứ, phía trên được lợp ngói âm dương với mái cong vút.. Lợp
ngói âm dương, thực ra là kiểu lợp ngói của người xưa bao gồm ngói dương
và ngói âm. Ngói dương giống như hình cái ống tách đôi, một đầu có
chuôi thu nhỏ để luồn vào bên trong viên ngói khác khi lợp nên thường
gọi là ngói ống, mặt hướng ra ngoài được phủ men xanh hoặc vàng. Viên
dưới cùng dùng để khóa bộ mái, được đúc thêm một cái nắp hình tròn,
thường được trang trí hoa văn chử thọ tròn, theo lối triện, gọi là câu
đầu. Ngói âm có hình chử nhật uốn cong, trong lòng phủ men một mặt. Khi
lợp tráng men hướng lên phía trên, cứ hai viên ngói âm thì có một viên
ngói dương phủ lên hoặc ngược lại, cứ hai viên ngói dương thì có một
viên ngói âm phủ lên. Viên ngói âm dưới cùng của bộ mái có gắn với một
cái yếm, thường trang trí mắt hổ phù, gọi là trích thủy, liên kết với
hai viên ngói câu đầu, cùng có chức năng trang trí diền mái và dùng để
định hướng giọt nước mưa. Quí khách hãy nhìn các đầu đao, chúng được bài
trí hình con rồng đang uốn lượn, đây là biểu tượng của uy quyền. Trên
nóc có tích lưỡng long chầu bình hồ lô, bình này tích sinh khí của trời
và đất để làm tăng sức mạnh cho con người. Nhìn lên ở giữa cổng tam quan
là 4 chữ hán màu đỏ ” Hội Quán Phúc Kiến”. Còn 3 chữ trên đó là Kim Sơn
Tự bởi vì trước kia Hội quán này còn có tên gọi là Kim Sơn Tự. Hai vòng
tròn hai bên là thờ ông Nhật và bà Nguyệt – Tượng trưng cho trời và
đất, là sự hài hòa âm dương trong vũ trụ.
Có 3 lối đi vào theo kiểu ” nam tả, nữ hữu”, 3 lối đi còn có ý nghĩa là “
Thiên, Địa, Nhân” cánh cửa ở giữa rất ít khi được mở ra, nó chỉ được mở
vào những ngày lễ lớn, ma chay, cưới hỏi…Bởi vì theo quan niệm người
xưa, nếu cổng chính giữa mở ra thì những sinh khí xấu sẽ đi vào bên
trong.
Phía trước quí khách là hòn nam bộ với hình tượng cá chép hóa rồng hay
còn gọi là cá chép vượt vũ môn. Người Trung hoa có truyền thuyết về cá
chép hóa rồng hay cá chép vượt vũ môn như thế này: Một năm, trời hạn hán
vì số Rồng quá ít, không đủ làm mưa điều hòa cho khắp mọi nơi, Trời mới
đặt ra một kỳ thi kén các vật lên làm Rồng gọi là thi rồng.Khi chiếu
trời ban xuống, vua Thủy Tề loan báo cho các cư dân dưới nước tham gia
vào cuộc thi. Cuộc thi có ba kỳ. mỗi kỳ vượt qua một đợt sóng. Con vật
nào đủ sức đủ tài vượt được cả ba đợt thì mới được hóa Rồng.
Trong một tháng trời, đại diện của bao nhiêu loài thủy tộc đến thi đều
bị loại cả. vì không con nào vượt được cả ba đợt sóng. Sau đó cá Rô nhảy
được một đợt nhưng đã bị rơi ngay. Rồi đến Tôm nhảy qua được hai đợt,
ruột ,gan, vây, vẩy, râu , đuôi đã gần hóa Rồng, nhưng đến lượt thứ ba
thì đuối sức ngã bổ xuống mà lưng đã còng lại. Đến lượt con cá chép vào
thi thì gió thổi ào ào, mây kéo ầm trời. Cá chép vượt luôn một hồi qua
ba đợt sóng và lọt vào cửa Vũ Môn. Cá Chép đã hóa thành rồng phun nước
làm giá táp, mưa sa, muôn loài sung sướng, sự sống đã hồi sinh.
Vì vậy ở Trung Quốc, cá Chép thường xuất hiện ở các câu chúc tết như ”
Niên niên hữu dư” nghĩa là hi vọng năm nào củng dư thừa ấm no. Cá chép
còn là biểu tượng của sự kiên trì và bền chí.
Kính thưa quí khách, ở giữa này là phiên bản Vạn Lý Trường Thành. Còn
phía bên kia là hình tích của bốn con vật linh thiêng Long, Lân, Quy,
Phụng, bên tay phải tôi là con Rồng, đối với các nước phương Đông, con
rồng là kiệt tác sáng tạo có lịch sử lâu đời .Nó có hình dạng kỳ lạ, đầu
giống như đầu đà, sừng giống như sừng nai, cổ giống như cổ rắn, bụng
giống như bụng con giao, mắt giống như mắt thỏ, tai giống như tai bò,
chân giống như chân cọp, móng giống như móng chim ưng, vảy rồng giống
như vảy cá ly. Rồng là biểu tượng của uy quyền.Tiếp đến là con Lân, nó
củng là sản phẩm của trí tưởng tượng, nó có hình như con hươu nhưng lại
lớn hơn, mình có vảy, đuôi giống đuôi trâu, chân giống chân ngựa, miệng
rộng, mũi to, đầu có 1 sừng, lông trên lưng có 5 màu, lông dưới bụng chỉ
có màu vàng, tính rất hiền lành, không đạp lên cỏ tươi, không làm hại
các sinh vật khác, nên được gọi là Nhân thú, nghĩa là con thú có lòng
nhân từ nó biểu hiện cho sự may mắn. Đây là con rùa, nó tượng trưng cho
sự tồn tại và bất diệt. Cuối cùng là hình con chim Phượng, đây là linh
vật được biểu hiện cho tầng trên, Phượng thường có mỏ vẹt, chân chim, cổ
ngắn.
Bốn con vật này đều rất linh thiêng, mỗi khi có 1 trong 4 con xuất hiện
thì nơi ấy ắt có điều lành xảy đến, hoặc có thánh nhân ra đời.
Quí khách có thấy 2 Lân bằng tượng đá ở đây không? Chúng như là người canh giữ cho Hội Quán.
Bước qua cổng tam quan này chúng ta sẽ tham quan các công trình kiến
trúc chính của Hội quán như: Tiên đình, chính điện, hậu tẩm….
Kính thưa quí khách, chúng ta đang đứng trong tiền đình. Ở đây có một bộ
bàn đá. Nó được dùng làm nơi hội họp, bàn bạc làm ăn của các thương dân
Phúc Kiến xưa kia. Quí khách có để ý những vòng hương đang được treo
đây không? Đây là một nét nỗi bật của hội quan Phúc Kiến, Tương truyền
rằng, Hội Quán Phúc Kiến hay còn gọi là chùa Phúc Kiến rất linh thiêng
nên khách hành hương thường hay đến đây và thắp những vòng hương lớn này
để cầu chúc sức khoẻ, tài lộc, cho gia đình, bạn bè và cho bản thân.
Những vòng hương này được bán ngay tại Hội Quán, nhưng không được phép
mang ra ngoài mà phải thắp ngay tại đây. Mỗi vòng hương như vậy cháy
trong khoảng 30 ngày. Nếu như có vòng hương nào tắt trước khi cháy hết
thì những người trong Hội Quán sẽ thắp lại. Trên các khoanh nhang người
cúng thường hay viết một tờ giấy có ghi họ tên đầy đủ của cả gia đình,
địa chỉ… để mong muốn được bà phù hộ độ trì cho công ăn việc làm được
thuật buồm xuôi gió. Và khi vòng hương cháy hết thì người trong Hội Quán
sẽ lấy những mảnh giấy này đốt thành tro. Như vậy lời ước mới linh
thiêng.
Xin mời quí khách nhìn về phía bên tay phải mình, đó là bức tranh bà
Thiên Hậu Thánh Mẫu cùng với người hầu của bà và một chiếc thuyền gặp
nạn. Chúng ta sẽ tìm hiểu nó kỷ hơn khi chúng ta vào bên trong chính
điện.
Còn phía bên bên này là bức tranh miêu tả 6 vị lục Tướng Vương Gia, 6 vị
này được thờ ở trong gian hậu tẩm mà chút nữa chúng ta sẽ vào tham
quan.
Bây giờ, tôi để cho quí khác một vài phút để chụp hình, sau đó chúng ta sẽ vào tham quan chính điện.
Kính thưa quí khách, hiện nay chúng ta đang đứng trước bàn thờ Quan Thế
Âm Bồ Tát và bà Thiên Hậu Thánh Mẫu – Nữ thần biển ” Thiên Hậu Thánh
Mẫu”. Người đã giúp họ tránh hoạn nạn, giông bão trên bước đường phiêu
bạt. Bà là vị thần được đặc biệt coi trọng không những ở nơi đây mà ở
tất cả các miếu của người Hoa ở Hội An và những nơi mà người Hoa sinh
sống. Vì ngày xưa trên bước đường lưu lạc tứ xứ, người Hoa thường đi
bằng tàu thuyền mà theo tương truyền thì bà thiên Hậu là người họ Lâm ở
tỉnh Phúc Kiến, lúc nhỏ bà là một đứa bé bị câm. Năm lên tám tuổi bà
được một ông tiên cho theo học đạo và đến năm 16 tuổi Bà được ông tiên
ban cho phép thần thông hô mưa, gọi gió. Và ông ban cho Bà với điều kiện
chỉ làm những việc thiện. Bà được gọi là nữ thần của biển cả, hay nữ
thần phù hộ cữu giúp những người đi biển. Người Hoa những khi có việc
cầu xin bà phù hộ thường mang lễ vật đến làm lễ dâng hương. Sau đó họ
thường cúng cho bà những Khoanh Nhang Đại và họ cũng cúng cho hội quán
dầu hỏa để thắp đèn trên bàn thờ của Bà. Những Khoanh Nhang này lớn lắm,
có thể cháy đến một năm mới hết. Người trong coi hội quán sẽ lấy lần
lượt các khoanh đốt dần, cái nào hết thì treo cái khác lên. Trên các
khoanh nhang người ta thường hay viết một tờ giấy có ghi họ tên đầy đủ
của cả gia đình, địa chỉ… để mong muốn được bà phù hộ độ trì cho công
việc được làm ăn thuộc buồm xuôi gió. Hàng năm vào ngày 26 tháng 2 người
Trung Hoa nói chung, và người phúc kiến nói riêng tổ chức lễ vía của
bà. Tại đây diễn ra nhiều hoạt động lễ hội thu hút rất nhiều du khách
trong và ngoài nước đến tham gia.
Bên phải thờ thần Thiên Lý Nhãn tức là vị thần có tài nhìn xa vạn dặm,
và bên phải thờ thần Thuận Phong Nhĩ là vị thần có tài nghe xa nghìn dặm
họ là 2 vị thần phụ tá cho bà Thiên Mậu Thánh Mẫu phát hiện những người
gặp nạn trên biển để bà cứu giúp.
Bên trái chính diện, người ta trưng bày mô hình chiếc thuyền của các
thương nhân gặp nạn dùng để đi biển trước đây có niên đại từ năm 1875
với nhiều chi tiết cụ thể. Điều đáng chú ý nhất trên chiếc thuyền là đôi
mắt. Người Hội An quan niệm rằng, con người, con vật đều có mắt để nhìn
đời và nhìn vào lòng mình thì các đồ vật gắn với vận mạng của con người
cũng phải có mắt. Chính vì thế, chiếc thuyền này được vẽ 2 con mắt hai
bên, to và rõ để nhìn thấy những tai ương trên biển khơi.
Bây gời mời quí khách chúng ta cùng tham quan Hậu tẩm. Mời quí khach
nhàn bàn thờ ở giữa, đây là nơi thờ của 6 vị Lục Tánh Vương Gia, 6 vị
này gồm Khâm Vương, Trương Vương, Thuấn Vương, Chu Vương, Hoàng Vương và
Thập Tam Vương. 6 vị tướng người Phúc Kiến này dẫn đầu trong phong trào
phản Thanh phục Minh, nhưng thất bại nên đã đưa con cháu mình theo
đường biển đến Hội An. Hằng năm ở đây có tổ chức ngày giỗ tổ cho 6 vị
này vào ngày 16/2 âm lịch, nhưng trước đó một ngày, nhiều người đã đến
dâng hương. Hội quán cũng cúng chay , cầu quốc thái dân an, mưa thuận
gió hòa, người khỏe mạnh.
Bàn thờ bên phải là nơi thờ tượng lớn của Bà Chúa Sinh Thai, Bà là người
nặn ra hình hài đứa trẻ. Hai Bà phái dưới là một Bà khai sinh và một Bà
khai tử. Ở dưới thấp là 12 Bà Mụ, mỗi Bà có nhiệm vụ chăm sóc đứa trẻ
mỗi tháng trong 12 tháng đầu đầu tiên. Vì thế khi đứa trẻ chưa đầy một
năm tuổi, khi chúng cười hay nói gì đó, người ta cho là các Bà dạy, hoặc
khi chúng bị té ngã nhưng không bị thương gì, người ta cho rằng có bà
Mụ che chở. Chính vị vậy mà người ta thường hay tổ chức thôi nôi hay đầy
tháng để tỏ lòng biết ơn các Bà Mụ. Ngày xưa, trong buổi lễ người ta
thường hay chuẩn bị 12 miếng trầu, 12 miếng cau để dâng cúng 12 Bà Mụ và
có riêng một lá trầu và một quả cau cho Bà Chúa Sinh Thai. Cũng chính
vì sự linh thiêng này mà Hội Quán còn là nơi để cho ngững người hiếm
muộn về đường con cái đến đây cầu tự.
Còn phía bàn thờ bên trái là nơi thờ Thần Tài. Vị thần bên trái là Thần
Tài Trắng hay còn gọi là Phúc Thần, là vị thần ban của cải, phước lộc.
Vị thần bên phải là Thần Tài Đen hay còn gọi là Pháp Thần, là vị thần
trừng phạt ngững người sử dụng tiền bạc không phù hợp với đạo lý. Đã có
rất nhiều người đến đây để thắp hương cầu tài, cầu lộc và rút xăm đầu
năm.
Bây giờ, chúng ta sẽ dừng lại ở đây trong một vài phút để qu khách chụp
hình, sau đó chúng ta sẽ rời Hội Quán theo lối của hông của dãy nhà đông
tây. Đó là nơi thờ các bài vị của những người thành lập nên Hội Quán
này và những người quyên góp tiền của xây và trùng tu Hội.
Trần Văn Phú
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét